CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Lý thuyết hành động ngôn từ 1. Khái niệm về hành động ngôn từ Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, hành vi ngôn ngữ đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Trong lý thuyết hành vi ngôn ngữ, nổi bật nhà triết học người Anh, Austin, người bày tỏ luận điểm “To say is to do something” (nói là làm) qua công trình nghiên cứu năm 1962 “How to do thing with words” và nhà triết học người Mỹ với công trình “Speech Acts” năm 1969.
Các ông tin rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà nó thường được dùng để làm cái gì đó, để thể hiện các hành động. Khi ta nói một câu nghĩa là ta đã thực hiện một hành động nào đó, tức là ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Từ luận điểm này, người ta đã xây dựng nên lý thuyết về hành động ngôn từ. Đồng thời xuất hiện một số thuật ngữ khác nhau như: hành động lời nói, hành động ngôn ngữ…Ví dụ thông báo, khuyên, chúc mừng, hứa hẹn….
là những hành động thực hiện bằng ngôn từ, và được gọi là hành động ngôn từ. Như vậy, hành động ngôn từ là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn. Trong luận văn này, thuật ngữ “hành động ngôn từ” được sử dụng theo ý khi ta nói một câu nghĩa là đã thực hiện một hành động nào đó và nó tương đương với thuật ngữ “hành vi ngôn ngữ” mà các nhà nghiên cứu Việt Nam như Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán, Nguyễn Đức Dân,… đã sử dụng. Trong lý thuyết của mình, Austin xem hành động ngôn từ là một thể thống nhất ba hành động liên quan.
Đó là hành động tạo lời (locutionary act), hành động tại lời (illocutionary act) và hành động mượn lời (perlocutionary act). - Hành động tạo lời: Austin đặt tên cho hành động này là “nói một điều gì đó”. Đây là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp để tạo nên một câu nói. Hành động tạo lời là hành động cơ sở của phát ngôn, là hành động phát ra một câu với ý nghĩa và sở chỉ xác định.
- Hành động tại lời: Hành động tại lời là nói một điều gì đó và thực hiện điều đó như thế nào và thực hiện hành động ấy phải ngay khi phát ra câu nói. Hành động tại lời là hành động tạo ra một lời tuyên bố, một lời hứa, một lời chào… khi phát ra một câu nhờ hiệu lực của những quy ước liên quan đển nó. Ví dụ: Hãy viết bằng bút màu xanh. (Hành động tại lời là yêu cầu người nghe viết bằng cây bút màu xanh.) 1 - Hành động mượn lời: Hành động mượn lời là hành động thông qua việc phát ngôn câu nói, người nói (chủ ngôn) tác động đến tư tưởng, tình cảm… của người tiếp nhận (tiếp ngôn).
Với một hành động mượn lời, người nghe có thể không nhận ra ngay mặc dù hiểu được hành động tại lời. Một hành động mượn lời có thể có nhiều hành động tại lời khác nhau. Ví dụ: Một hành động tại lời là khi người nói muốn từ chối lời mời đi chơi của người nghe và đưa ra một lời từ chối trực tiếp: - Ngày mai, tớ không đi xem phim với cậu được. Hành động mượn lời có thể sử dụng một trong những phát ngôn sau: - Ngày mai tớ có việc phải đến nhà bà; Tớ không có hứng thú với phim ảnh lắm; Dạo này mẹ tớ nghiêm lắm, tớ chẳng đi đâu được.
Phương thức thực hiện hành vi ở lời 1. Biểu thức ngữ vi và các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời Searle (1969) cho rằng tất cả các phát ngôn (do hành vi tạo lời và hành vi ở lời tạo ra) đều có hai thành phần ngữ nghĩa kí hiệu là: F(p). F là kí hiệu chỉ hiệu lực ở lời do hành vi ở lời tạo ra phát ngôn đó mà có. Trong một phát ngôn, có những dấu hiệu cho biết phát ngôn đó do hành vi ở lời nào tạo ra, tức có hiệu lực ở lời F gì.
Chẳng hạn, một phát ngôn “Anh có đi Huế không?” là một phát ngôn đặc trưng cho hành vi ở lời hỏi vì nó có những dấu hiệu đặc trưng như kiểu kết cấu “…có …không?” và ngữ điệu hỏi. Những dấu hiệu này được gọi là phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force indicating devices - IFIDs). Nhờ các dấu hiệu này mà người nghe có thể nhận ra hành vi ở lời nào đang được người nói thực hiện để hồi đáp lại bằng một hành vi thích hợp. Một phát ngôn có đầy đủ (p) và F hoặc có chứa các dấu hiệu đặc trưng cho một hành vi tại lời được gọi là một biểu thức ngữ vi (viết tắt: BTNV).
Biểu thức ngữ vi là một thể thức nói năng cốt lõi do các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời kết hợp với (hoặc không có) nội dung mệnh đề đặc trưng cho một hành vi ở lời nào đó. Biểu thức ngữ vi (hay còn gọi là biểu thức ở lời, biểu thức ngôn trung, biểu thức ngôn hành) vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của một hành vi ở lời. Phát ngôn ngữ vi Phát ngôn ngữ vi (viết tắt: PNNV) là sự hiện thực hóa một biểu thức ngữ vi trong một ngữ cảnh cụ thể. Trong thực tế chúng ta có thể gặp hai loại phát 2 ngôn ngữ vi.
Phát ngôn ngữ vi tối giản là phát ngôn ngữ vi chỉ có biểu thức ngữ vi, chẳng hạn như: - Tôi đề nghị cậu chuyển công tác đến công ty A. và các phát ngôn ngữ vi mở rộng, ngoài biểu thức ngữ vi còn chứa những thành phần phụ khác. Thí dụ: - Để phát triển hơn, tôi đề nghị cậu chuyển công tác đến công ty A. Phát ngôn ngữ vi này gồm biểu thức ngữ vi cốt lõi “tôi đề nghị cậu chuyển công tác đến công ty A” của hành vi thề và thành phần mở rộng “để phát triển hơn”.
Động từ ngữ vi Trong các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời, có một loại phương tiện đặc biệt được gọi là động từ ngữ vi (viết tắt: ĐTNV). Đó là những động từ mà khi phát ngôn người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị như: hỏi, xin, trả lời, khuyên, hứa, cảm ơn, thề, cảnh cáo… Chẳng hạn có người nói “Tôi cảm ơn anh” thì đối với khuôn hình câu “Tôi…….anh” người đó chỉ có thể thực hiện hành vi “cảm ơn” bằng cách phát âm động từ “cảm ơn” chứ không thể bằng con đường nào khác. Không phải bao giờ một ĐTNV cũng luôn được dùng với chức năng ngữ vi. Austin (1962) cho rằng ĐTNV chỉ được dùng theo hiệu lực ngữ vi với hai điều kiện sau: - Chủ ngữ trong phát ngôn ngữ vi ở ngôi thứ nhất.
Chẳng hạn, hãy so sánh hai phát ngôn: (1) Tôi đề nghị cậu hãy cố gắng hết sức trong kì thi lần này (2) Ông Thanh đề nghị cậu hãy cố gắng hết sức trong kì thi lần này. Trong phát ngôn trên động từ “đề nghị” được dùng trong hiệu lực ngữ vi, còn trong phát ngôn (dưới), do chủ ngữ là “Ông Thanh” (ngôi thứ ba) nên động từ “đề nghị” dùng theo lối miêu tả thông thường (kể lại một hành vi ngữ vi của người khác). - ĐTNV ở thời hiện tại với những ngôn ngữ có phạm trù “thì” (Tense) và không có các phụ từ chỉ thời gian hoặc các từ tình thái chỉ thời gian trong các ngôn ngữ không có phạm trù “thì” (Thí dụ trong tiếng Việt những từ đã, đang, sẽ, mới, rồi, vẫn. đi kèm động từ thì động từ đó không được dùng với hiệu lực ngữ vi).
Chẳng hạn, hãy so sánh hai phát ngôn: (1) Tôi đề nghị cô đi ngay khỏi đây. (2) Tôi đã đề nghị cô đi ngay khỏi đây. 3 Từ “đã” trong câu (2) đã làm cho PNNV đề nghị mất tính chất ngữ vi , trở thành một phát ngôn kể lại một hành vi ngôn ngữ (đề nghị) đã được thực hiện. Như vậy, ĐTNV là một dấu hiệu đặc biệt trong những phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời mà vai trò của nó chưa được các nhà Ngữ pháp học phát hiện ra trong ngữ pháp tiền dụng học.
Đối với tiếng Việt, dễ dàng có thể nhận thấy có khá nhiều các động từ vừa có ý nghĩa hành vi ở lời (ĐTNV) , vừa có ý nghĩa hành vi tạo lời, vừa có ý nghĩa hành vi mượn lời. (Ví dụ: cằn nhằn là động từ chỉ hành vi ở lời trách móc, bày tỏ sự không hài lòng trước việc làm của một người nào đó. Nhưng hành vi ở lời đó được thực hiện theo cách thức lặp đi lặp lại nhiều lần và không to tiếng. Đồng thời, với cách thức cằn nhằn, người nói cố tình làm cho người nghe phải bực dọc, khó chịu nhận ra sự sai trái trong việc làm của mình để từ bỏ việc làm đó).
Ngoài ra, còn có khá nhiều các động từ đồng nghĩa chỉ khác nhau chủ yếu ở tính chất ngữ vi hay không ngữ vi: chẳng hạn mời và mời mọc, hứa và hứa hẹn, xin và xin xỏ, thề và thề thốt…So sánh “thề” và “thề thốt”. Động từ “thề” có thể được dùng để thực hiện hành vi “thề” tức được dùng với tư cách là dấu hiệu ngữ vi của “thề” như trong phát ngôn sau: “Tôi thề suốt đời trung thành với lí tưởng cách mạng”, cũng có thể dùng trong phát ngôn miêu tả bình thường sau: “Tôi đã thề suốt đời trung thành với lí tưởng cách mạng”. Động từ “thề thốt” trái lại chỉ có dùng để miêu tả, kể lại sự kiện, không thể dùng như một động từ ngữ vi. Không ai “thề” bằng phát ngôn: “Tôi thề thốt suốt đời trung thành với lí tưởng cách mạng”.
Phân biệt biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp Austin phân biệt BTNV nguyên cấp là những BTNV không có ĐTNV, thí dụ: (1) Anh có đi Sài Gòn không? (2) Tôi sẽ trả bài kiểm tra vào ngày mai. (4) Nếu nói sai thì tôi sẽ chết. với những BTNV tường minh , là những biểu thức có ĐTNV dùng theo hiệu lực ngữ vi, như: (1) Tôi hỏi anh có đi Sài Gòn không? (2) Tôi hứa sẽ trả bài kiểm tra vào ngày mai. (3) Tôi đề nghị im lặng.
(4) Tôi thề nếu nói sai thì tôi sẽ chết. 4 Sau khi phân biệt BTNV tường minh và BTNV nguyên cấp, Austin (1962) cho rằng không có sự đối lập giữa các phát ngôn khảo nghiệm và các phát ngôn ngữ vi nữa. Các phát ngôn khảo nghiệm cũng là các phát ngôn ngữ vi nguyên cấp.