phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề án được trình bày trong ba chương. Cơ sở lí luận, trình bày những kiến thức lí luận là cơ sở cho việc khảo sát đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Niê Thanh Mai: truyện ngắn, ngôn ngữ truyện ngắn; khái quát về truyện ngắn Niê Thanh Mai. Đặc điểm sử dụng từ ngữ và biện pháp so sánh tu từ trong truyện ngắn Niê Thanh Mai, trình bày kết quả khảo sát một số lớp từ ngữ và biện pháp tu từ ngữ nghĩa có giá trị nghệ thuật góp phần phác họa bức tranh không gian văn hóa Tây Nguyên. Đặc điểm sử dụng câu và đoạn trong truyện ngắn Niê Thanh Mai: đặc điểm sử dụng câu và đoạn trong cấu trúc văn bản truyện ngắn của nữ nhà văn.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn 1. Khái niệm Cùng với nhiều thể loại khác, truyện ngắn có vị trí quan trọng trong văn xuôi và ảnh hưởng lớn đối với một nền văn học. Xung quanh vấn đề khái niệm truyện ngắn có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu lý luận, các nhà văn.
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của cuộc sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn viết ra để tiếp thu liền một mạch […]. Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” [10, tr.
Từ điển văn học (bộ mới) xác định truyện ngắn là: “Một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ ” [11, tr. Trong giáo trình Lý luận văn học, Phương Lựu (chủ biên): “Truyện ngắn là hình thức của tự sự. Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần với các hình thức kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười,… nhưng thực ra không phải, nó gần với tiểu thuyết hơn cả, bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời.
Nội dung của thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn” [19, tr. Qua các định nghĩa, ta thấy mỗi tác giả đều đưa ra những ý kiến riêng của mình về truyện ngắn. Song nhìn chung, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng “truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ”. Trong khuôn khổ của Đề án này, chúng tôi thống nhất với khái niệm về truyện ngắn được trình bày trong Từ điển văn 8 học (bộ mới).
Như vậy, điểm nổi bật ở truyện ngắn đó là thể loại tự sự với hình thức ngắn gọn, súc tích có thể đọc liền một mạch; nội dung gần gũi với đời sống, với những câu chuyện hằng ngày nhưng hàm lượng giá trị và ý nghĩa chứa đựng bên trong là rất lớn. Một số phận, một cuộc đời, có khi là cả một thời đại hiện lên rõ ràng, cụ thể chỉ trên vài trăm trang truyện. Truyện ngắn không miêu tả dàn trải một quá trình trên một diện rộng như những vấn đề được đề cập trong tiểu thuyết mà nó chủ yếu đi vào một hoặc vài biến cố của số phận con người, một mặt, một khía cạnh nào đó của nhân vật. Nó quan tâm đến kết quả của vấn đề hơn là quá trình.
Nó buộc độc giả phải ngẫm nghĩ, suy tư về những giá trị ẩn chứa đằng sau những sự kiện, những chi tiết mà người viết đặt ra. So với thể loại tiểu thuyết hay truyện vừa, truyện ngắn mang nhiều dấu ấn của ngôn ngữ nói, được thể hiện dưới hình thức các cuộc đối thoại qua lại giữa các nhân vật. Thông qua các nhân vật, tác giả muốn thể hiện một trạng thái tâm lí con người thời đại, đồng thời qua đó nhà văn muốn gửi gắm những thông điệp, bày tỏ với độc giả những băn khoăn, suy nghĩ về con người và thời đại theo tinh thần khách quan hoặc chủ quan của mình. Vì giới hạn và khuôn khổ cho phép của truyện ngắn nên để có một tác phẩm hay, xuất sắc là điều không dễ đối với người sáng tác.
Cốt truyện Là một thể loại của văn xuôi tự sự, truyện ngắn vừa có những nét chung lại có những nét đặc trưng riêng. Đặc trưng chung đầu tiên thể hiện ở cốt truyện. Cốt truyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm tự sự và tác phẩm kịch thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Truyện ngắn là thể loại có cốt truyện nhưng nhìn chung biến hóa hơn tiểu thuyết.
Truyện ngắn có nhân vật, được thể hiện qua lời kể, trần thuật. Cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết đều chú trọng vai trò của người kể chuyện. Song điểm khác biệt dễ thấy nhất giữa truyện ngắn và tiểu thuyết là truyện ngắn có hình thức kể chuyện nhỏ - tức là “truyện ngắn”. Nó chỉ đề cập đến một vài biến cố riêng của cuộc sống con người.
Số lượng nhân vật cũng không nhiều, vì hầu hết các truyện 9 ngắn xây dựng rất ít các sự kiện, ít biến cố. Tình tiết trong truyện ngắn vì thế thường được lựa chọn rất kỹ, chỉ ghi lại những tình huống nào tiêu biểu nhất, đủ sức cho người đọc hình dung cả quá trình sống của nhân vật. Dựa vào cốt truyện, có thể chia làm hai loại truyện. Truyện không có cốt truyện (hoặc cốt truyện rất mờ nhạt) vì do dụng ý nghệ thuật của nhà văn chỉ nhằm thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật trong mối liên hệ với hoàn cảnh.
Truyện chỉ có những ý tưởng, không có sự kiện gay cấn, thời gian cụ thể, thậm chí không có đầu đuôi (truyện ngắn Thạch Lam). Truyện ngắn có cốt truyện rất chú ý xây dựng những tình tiết, sự kiện bộc lộ tính cách của nhân vật và thúc đẩy hướng phát triển, vận động của mạch truyện. Các sự kiện càng gay cấn, nổi bật càng tạo kịch tính, sức hấp dẫn cho truyện (truyện ngắn Chí Phèo - Nam Cao). Dung lượng Truyện ngắn có dung lượng nhỏ, ngắn gọn mà cô đúc nên có sức ám ảnh lớn.
Nó tập trung vào một hoặc một vài biến cố trong một không gian, thời gian nhất định, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ và sự liên tưởng cho người đọc. Ví dụ: truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc dịch ra tiếng Việt chỉ hai trang sách, được viết dưới hình thức một bức thư kể về một sự kiện là tác giả bị nhận nhầm là Khải Định. Cốt truyện đơn giản, dung lượng rất ngắn nhưng truyện lại có sức công phá lớn, tác động mạnh mẽ vào ý thức, khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc để đặt ra vấn đề chính trị - xã hội, vấn đề dân tộc, đấu tranh… c. Kết cấu Về kết cấu, tuy dung lượng nhỏ nhưng truyện ngắn có thể có những kết cấu linh hoạt.
Kết cấu truyện ngắn không gồm không gian, thời gian nhiều tầng bậc, nhiều tuyến, được tổ chức theo kiểu tương phản, liên tưởng. Truyện ngắn có thể có các kiểu kết cấu sau đây: - Kết cấu vòng tròn (đầu cuối tương ứng): Chí phèo (Nam Cao). - Kết cấu theo trục thời gian: chuyện được kể theo thời gian, theo diễn biến của dòng sự kiện: Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) - Kết cấu tâm lý: chuyện được kể men theo dòng tâm lý nhân vật, làm sáng 10 rõ nội tâm nhân vật và tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện: Đời thừa (Nam Cao) - Kết cấu đồng hiện: nhà văn miêu tả sự kiện, quan sát tình huống ở các địa điểm khác nhau trong cùng một thời điểm. Kiểu kết cấu này đem lại khả năng mở rộng dung lượng cho tác phẩm: Bức tranh (Nguyễn Minh Châu).
- Kết cấu trùng phức (kết cấu truyện lồng trong truyện): người kể chuyện đứng ra ngoài, đóng vai trò là đạo diễn để tổ chức diễn biến câu chuyện qua lời kể, qua đó hoàn thiện chân dung nhân vật: Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu). - Kết cấu mở: truyện kết thúc nhưng cái kết còn để ngỏ, mở ra những khả năng liên tưởng rộng lớn: Chí Phèo (Nam Cao), Vợ nhặt (Kim Lân). Nhân vật Nhân vật truyện ngắn ít hơn tiểu thuyết và thường bắt buộc phải được xây dựng theo nguyên tắc điển hình hóa. Nhân vật phải được đặt trong một hoàn cảnh cụ thể, vừa mang tính chung phổ quát vừa mang tính riêng độc đáo.
Trong truyện ngắn, nhân vật là một mảnh nhỏ của thế giới, là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người, phát ngôn trực tiếp hoặc gián tiếp cho tư tưởng nhà văn. Nhân vật trong truyện ngắn đa phần được khắc họa bằng nội tâm chứ ít khi thông qua sự đối thoại như văn bản kịch. Nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn là mạch chỉ xuyên suốt, quyết định mấu chốt của cốt truyện. Cốt truyện được xây dựng liền mạch với sự phát triển tâm trạng, nó “chủ yếu là nhận ra cái gì, vì vậy nó thường kết thúc theo lối chấm phá”.
Kết cấu truyện ngắn cũng không chia thành nhiều thành tố phức tạp. Nó không có kết cấu chương hồi, mà chủ yếu là sự đan bện các chi tiết. Điểm nhìn và phương thức kể chuyện Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện tượng trong tác phẩm. Trong tác phẩm tự sự, tương quan giữa nhà văn và chủ đề trần thuật hay giữa điểm nhìn của người trần thuật với những gì được kể là điều đặc biệt quan trọng.
Điểm nhìn nghệ thuật được xem như một camera dẫn dắt người đọc vào mê cung văn bản ngôn từ. Khi nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật, người ta chia điểm 11 nhìn thành các loại như điểm nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật; điểm nhìn không gian, điểm nhìn thời gian; điểm nhìn tâm lý, điểm nhìn tư tưởng; điểm nhìn tu từ… Trong nghệ thuật trần thuật, sáng tạo của nhà văn trước hết thể hiện ở cách “ứng xử” với câu chuyện để tạo ra sự đa dạng của các điểm nhìn nghệ thuật. Về phương thức kể chuyện, trong truyện ngắn, người ta thường dùng nhiều cách kể chuyện.