mở đầu lẩy một câu Kiều hay một câu châm ngôn, sau đó có thể nói theo kiểu kể chuyện vui bằng phương ngữ, sau đó trích dẫn một vài điển tích, hoặc nói chêm vào mấy câu tiếng nước ngoài. 8 (7) Chuẩn tương tác và chuẩn giải thích (N - norm of interaction and interpretation) Chuẩn tương tác thuộc về người nói còn chuẩn giải thích thuộc về người nghe. Nói một cách cụ thể hơn, người nói phải lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp, còn người nghe phải cố gắng lí giải phát ngôn trong cùng một khung chung. (8) Thể loại (G - Genres) Thể loại chỉ loại hình của hình thức ngôn ngữ như độc thoại, hội thoại, thơ, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, bài thuyết trình.
Mỗi thể loại sẽ thích hợp với từng trường hợp giao tiếp cụ thể. Quan hệ giao tiếp 1. Khái niệm quan hệ giao tiếp Để tồn tại và phát triển, con người cần tạo dựng các mối quan hệ giữa với môi trường tự nhiên và với môi trường xã hội, trong đó mối quan hệ với môi trường xã hội có ý nghĩa đặc biệt. Khi nói “bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”, cũng có nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất con người.
Mối quan hệ trong xã hội của con người đa dạng, phức tạp tạo thành một mạng lưới các mối quan hệ. Theo Nguyễn Văn Khang quan hệ giao tiếp là “.mối quan hệ giữa các thành viên tham gia một cuộc giao tiếp cụ thể”. “Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xã hội chung, trên cơ sở cấu trúc của xã hội đó” [20, tr. Hoạt động giao tiếp bao gồm các nhân tố: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp và phương tiện, cách thức giao tiếp.
“Trong giao tiếp, không phải nhân vật giao tiếp muốn nói gì thì nói. Nhân vật giao tiếp nói (viết) gì, như thế nào là tuỳ thuộc vào quan hệ xã hội của họ. Mỗi tương tác ngôn ngữ nhất thiết là một tương tác xã hội” [8, tr. Như vậy, trong hoạt động giao tiếp, muốn đạt được mục đích giao tiếp, người tham gia giao tiếp luôn phải có ý thức “lựa lời mà nói”.
Sử dụng ngôn ngữ thực chất là quá trình lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ. Để có được sự lựa chọn đúng người tham 9 gia giao tiếp phải chú ý đến mối quan hệ giữa họ với các thành viên tham gia giao tiếp. Quan hệ “quyền uy” và quan hệ “thân hữu” Căn cứ vào những nhân tố liên quan đến khoảng cách xã hội (tuổi tác, giới tính, vị thế xã hội.) và mức độ gắn bó giữa những nhân vật tham gia giao tiếp (thân, sơ.), người ta có thể quy thành hai loại quan hệ giao tiếp là: quan hệ quyền uy (hay quan hệ vị thế) và quan hệ thân hữu. - Quan hệ quyền uy: là quan hệ trên - dưới, sang - hèn, tôn - khinh.
- Quan hệ thân hữu: là quan hệ ngang bằng. Khi xác định được vai của người tham dự giao tiếp ở vào một quan hệ nào đó thì sẽ có sự lựa chọn phong cách ngôn ngữ tương ứng để giao tiếp sao cho thoả đáng. Ví dụ: lời chúc mừng của học trò dành cho thầy cô giáo (quan hệ quyền uy) khác với lời chúc của bạn bè thân thiết dành cho nhau (quan hệ thân hữu): - Nhân ngày 20/11, em chúc cô luôn vui vẻ, mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp trồng người ạ. - Chúc thằng bạn luôn trẻ, khỏe, mắn đẻ và… không bị ghẻ.
Sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp 1. Khái niệm “sự lựa chọn ngôn ngữ” “Giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, và suy cho cùng, ngôn ngữ sinh ra chẳng để làm gì ngoài thực hiện chức năng giao tiếp. Giao tiếp được coi là quá trình vận dụng ngôn ngữ. Sự vận dụng này thực tế là một quá trình lựa chọn ngôn ngữ (language choice)… Sự lựa chọn ngôn ngữ được tiến hành ở bất kỳ tầng diện nào của ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, v.
bởi chỉ cần một sự biến đổi nhỏ ở trong một tầng diện sẽ tạo nên một ý nghĩa dụng học sâu sắc” [20, tr. Sự lựa chọn có thể là kết quả của một hành vi có ý thức với ý định chủ quan, cũng có thể diễn ra một cách vô thức và ngoài ý định chủ quan của chủ thể giao tiếp. Từ đó, có thể quy về hai quá trình lựa chọn, đó là: sự lựa chọn mang tính ngữ cảnh (lựa chọn không đánh dấu) và sự lựa chọn mang tính chiến lược (lựa chọn mang tính đánh dấu). “Sự lựa chọn ngôn ngữ không phải nhất thành bất biến mà linh hoạt với mục đích cuối cùng là thoả đáng về giao tiếp …” [20, tr.
Các đặc trưng của ngôn ngữ tự nhiên làm cơ sở cho sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp a/ Tính dị biến: là tính đa khả năng trong cách biểu đạt của ngôn ngữ với các hình thức biểu đạt khác nhau ở các bình diện của ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Nhờ tính đa khả năng này mà con người khi giao tiếp có thể lựa chọn cho phù hợp với bối cảnh cũng như mục đích giao tiếp. b/ Tính thương lượng Liên quan đến việc tạo ra tính thương lượng là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng ngôn ngữ. Quyền (rights) là những hành động ngôn từ mà người giao tiếp được quyền sử dụng.
Nghĩa vụ (obligation) là những việc mà người giao tiếp phải làm để đảm bảo nguyên tắc thông tin. Trên cơ sở quyền và nghĩa vụ mà tạo ra nguyên tắc thương lượng (negociation principle) làm cho có sự cân đối giữa quyền và nghĩa vụ lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp. c/ Tính thích nghi Tính thích nghi làm cho người giao tiếp có thể lựa chọn ngôn ngữ theo cách thương lượng. Mã và sự lựa chọn mã trong giao tiếp a/ Khái niệm mã Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê mã là “hệ thống ký hiệu quy ước, dùng vào việc truyền tin” [27].
Thuật ngữ mã được dùng trong thông tin với ý nghĩa các từ, chữ cái, ký hiệu… đại diện cho những cái khác dùng cho những thông báo mật hoặc để trình bày hoặc ghi lại thông tin một cách vắn tắt. Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ mã dùng với ý nghĩa: “hệ thống các tín hiệu có thể truyền đạt thông tin”. Dựa trên năng lực và phương thức biểu đạt hiện thực khách quan, ngôn ngữ của con người có thể chia thành hai mã khác nhau là mã hữu hạn và mã phức tạp. “Mã hữu hạn (restricted code) có kết cấu đơn giản, sử dụng nhiều đại từ nhân xưng và câu hỏi phụ.
Muốn nhận tin tức truyền từ mã hữu hạn, người ta phải căn cứ vào việc tìm hiểu bản thân người nói cũng như bối cảnh cụ thể cùng mục đích giao tiếp. Mã hữu hạn thường được dùng giữa các thành viên trong gia đình, giữa bạn bè 12 thân quen. Mã hữu hạn chỉ có khả năng thể hiện đặc trưng cộng đồng xã hội của người giao tiếp chứ không thể hiện được cá tính của người giao tiếp. Mã phức tạp (elaborated code) có kết cấu tương đối phức tạp, sử dụng nhiều tính từ, động từ, hình thái động từ bị động, ít dùng phó từ và đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất.
Mã phức tạp truyền đạt nội dung không phụ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể và có thể thể hiện được đặc tính cá tính của người nói. b/ Sự lựa chọn mã trong giao tiếp Khi tham gia giao tiếp, mỗi cá nhân đều có ý thức lựa chọn mã ngôn ngữ cho phù hợp hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp… Ví dụ: Ông A là lãnh đạo một cơ quan khi chủ trì cuộc họp tổng kết đơn vị sẽ nói năng khác khi là người chồng trong gia đình và chủ trì cuộc họp gia đình. Khi một cá nhân chuyển từ cương vị này sang cương vị khác, tức chuyển vai, thì cá nhân đó đồng thời cũng đã chuyển mã giao tiếp, tức chuyển sang một biến thể ngôn ngữ cá nhân khác thích hợp với quan hệ vai đảm nhiệm. Có hai cách lựa chọn mã trong giao tiếp là chuyển mã và trộn mã.
Có ý kiến cho rằng, chuyển mã và trộn mã chỉ xảy ra trong môi trường đa ngữ. Xuất phát từ quan điểm này, khái niệm mã chỉ được dùng trong phạm vi môi trường đa ngữ, còn trong môi trường đơn ngữ thì sử dụng khái niệm biến thể. Tuy nhiên, theo ý kiến của đa số nhà nghiên cứu thì sự lựa chọn ngôn ngữ là hiện tượng tất yếu xảy ra trong giao tiếp ở môi trường đa ngữ hay đa phương ngữ. Vì thế, thuật ngữ mã được dùng cho cả ngôn ngữ và phương ngữ trong sự lựa chọn ngôn ngữ.
“Sử dụng khái niệm “mã” tương đối thuận lợi vì nó mang tính trung gian khi mà hàng loạt các khái niệm và ranh giới giữa các khái niệm này còn mơ hồ như ngôn ngữ, tiếng địa phương, biến thể, chuẩn mực. Với quan niệm này, mã ngôn ngữ có thể là ngôn ngữ, có khi chỉ là biến thể của ngôn ngữ” [20, tr. c/ Hiện tượng chuyển mã Chuyển mã là hiện tượng sử dụng hai hoặc trên hai biến thể ngôn ngữ trong một lần đối thoại. Ví dụ: - Merry christmas and happy giáng sinh.
Chúc cậu được mãi mãi mạnh khỏe chung với gia đình. to love another, wish love another I love u. 13 - Happy birthday bạn! Chúc bạn tuổi mới thành công mới. ☺ Sr (sorry) vì send greeting muộn nhé! Tớ bận quá.
Có nhiều cách phân loại chuyển mã khác nhau, trong giao tiếp có hai cách phân loại thường gặp sau [20, tr.380] Thứ nhất: + Chuyển mã tình huống (chuyển mã ngữ cảnh): là sự chuyển mã ngôn ngữ theo bối cảnh giao tiếp, tức là dựa trên mối quan hệ xã hội giữa những người tham gia giao tiếp hội thoại và khung cảnh tiến hành giao tiếp hội thoại để chuyển mã. + Chuyển mã ẩn dụ là sự chuyển mã nhằm làm thay đổi phong cách giao tiếp như khẩu ngữ, ngữ điệu hoặc quan hệ vai giao tiếp. Thứ hai: Carol M. Scotton (1988) đã vận dụng nguyên lý đánh dấu, phân loại chuyển mã thành ba loại: chuyển mã đánh dấu, chuyển mã không đánh dấu và chuyển mã mang tính thăm dò.
d/ Hiện tượng trộn mã: Trộn mã là khi người ta giao tiếp bằng một ngôn ngữ ngôn ngữ nhưng lại sử dụng một vài thành phần của ngôn ngữ khác và phát âm theo áp lực của ngôn ngữ đang sử dụng. Trộn mã không chỉ ở đơn vị từ mà còn ở thành phần cao hơn (như đoản ngữ).