CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1. Bình diện kết học và nghĩa học của từ tiếng Việt 1. Khái quát chung về từ tiếng Việt 1. Khái niệm từ tiếng Việt Có nhiều khái niệm về từ tiếng Việt.
Trong đề tài này, chúng tôi đi theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu. Trong cuốn Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang đặc điểm ngữ pháp nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [11, tr. Đặc điểm của từ tiếng Việt Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt đưa ra 7 đặc điểm của từ tiếng Việt, gồm: đặc điểm về hình thức ngữ âm, đặc điểm về kiểu cấu tạo, đặc điểm về ngữ pháp, đặc điểm về ngữ nghĩa, đặc điểm là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu, đặc điểm về tính sẵn có, đặc điểm về tính hợp thể. Khác với Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Nghĩa học Việt ngữ” chỉ đưa ra 2 đặc điểm là: tính sẵn có và tính thành ngữ.
Bình diện kết học (ngữ pháp) của từ tiếng Việt Nói đến bình diện kết học - ngữ pháp của từ tiếng Việt, về cơ bản cần xem xét từ theo các lĩnh vực cấu tạo từ và từ loại. Cấu tạo từ tiếng Việt a. Từ đơn Theo Đỗ Hữu Châu, “từ đơn là từ có một hình vị” [12, tr. Trong đó, hình vị được xem là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất của ngôn ngữ, hay nói cách khác là âm tiết có nghĩa nhỏ nhất được dùng để tạo từ.
Trong đề tài này, chúng tôi đi theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu khi cho rằng có hai dạng từ đơn trong tiếng Việt là từ đơn đơn âm tiết và từ đơn đa âm tiết. Từ đơn đơn âm tiết là từ có một âm tiết mang nghĩa rõ ràng. Ví dụ: cá, cây, hoa, xe, nhà, cửa… 12 Từ đơn đa âm tiết là từ có hai âm tiết trở nên, nhưng các âm tiết này nếu tách riêng ra sẽ trở nên vô nghĩa. Ví dụ: bồ hóng, mắc cọp, tắc kè, a xít, pít tông… b.
Từ ghép Đỗ Hữu Châu định nghĩa “từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) riêng rẽ, tách biệt, độc lập với nhau” [12,tr. Từ ghép tiếng Việt gồm hai loại: * Từ ghép chính phụ Theo Đỗ Hữu Châu, từ ghép chính phụ là “những từ ghép giữa hai từ tố có quan hệ chính phụ. Nếu kí hiệu từ tố chính là X, từ tố phụ là Y thì từ tố phụ có tác dụng phân hóa nghĩa của từ tố X” [11, tr. Trong đó, có các kiểu ghép chính phụ sau: - Từ ghép chính phụ phân nghĩa là “những từ ghép chia loại lớn thành những loại nhỏ có quan hệ bao gồm và nằm trong so với loại lớn” [11,tr.
Nói cách khác, “phân nghĩa là cơ chế tạo ra các từ ghép theo quan hệ chính phụ giữa các từ tố, lập thành từng hệ thống nhỏ đồng nhất về yếu tố chỉ loại lớn X cả về hình thức ngữ âm, cả về ngữ nghĩa” [11, tr. Ghép chính phụ phân nghĩa gồm 4 tiểu loại nhỏ hơn là: ghép phân nghĩa biệt loại, ghép phân nghĩa sắc thái hóa, ghép phân nghĩa đẳng nghĩa và ghép phân nghĩa phụ gia hóa: là loại từ ghép. - Từ ghép chính phụ biệt lập, là từ ghép mà “nghĩa của mỗi từ không có quan hệ nằm trong so với nghĩa của một loại lớn nào, không hợp thành hệ thống nghĩa so với những từ ghép chính phụ khác.Trong những từ ghép này, tuy vẫn có từ tố chính X, nhưng X không phải là một loại lớn” [11, tr. - Từ ghép chính phụ có các từ gốc Hán Việt, là loại từ ghép mà từ tố chính X có gốc Hán Việt.
Loại từ ghép này khá phổ biến trong tiếng Việt. * Từ ghép đẳng lập Theo Đỗ Hữu Châu, từ ghép đẳng lập là “những từ ghép trong đó hai từ tố bình đẳng với nhau, không có từ tố nào là chính, từ tố nào là phụ, cả hai từ tố góp nghĩa với nhau để cho nghĩa mới của toàn từ ghép” [11, tr. Có các loại ghép đẳng lập như sau: 13 - Ghép đẳng lập theo cơ chế nghĩa, là loại từ ghép mà “nếu cho nghĩa của toàn bộ từ ghép là S thì nghĩa S của một từ ghép đẳng lập không do nghĩa của một từ tố quyết định như nghĩa của từ ghép biệt loại mà là kết quả của sự hợp nhất nghĩa của từng từ tố mà có” [11, tr. - Ghép đẳng lập biệt lập, là loại từ ghép mà “nghĩa S không phải là tổng loại, không phải là chuyên loại, cũng không phải là phối nghĩa.Mỗi nghĩa là một sự kiện, một hoạt động, một tính chất riêng” [11, tr.
Từ láy Theo Đỗ Hữu Châu, từ láy là “những từ phức do phương thức láy tác động vào một từ tố cơ sở (kí hiệu C) làm xuất hiện một từ tố thứ sinh được gọi là từ tố láy (kí hiệu L)” [11,tr. Từ láy được phân loại thành hai nhóm lớn: láy hoàn toàn và láy bộ phận. Từ láy bộ phận được chia thành 2 kiểu nhỏ là điệp âm (láy âm) và điệp vận (láy vận). Từ loại tiếng Việt Từ tiếng Việt luôn đảm nhiệm những chức năng và vị trí ngữ pháp nhất định trong câu, nên được chia thành các nhóm từ loại sau: - Danh từ: Theo Diệp Quang Ban, danh từ là “thực từ có ý nghĩa thực thể, được dùng làm tên gọi các “vật”, kết hợp được về phía trước với loại từ, với mạo từ chỉ lượng như những, các, về phía sau với các chỉ định từ (này, nọ…) và thường làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu” [2, tr.
- Động từ: là loại từ biểu thị hành động và trạng thái. - Tính từ: là từ chỉ tính chất, đặc trưng về màu sắc, mùi vị, âm thanh… của vật. - Số từ: là “lớp từ gần gũi với danh từ ở cách gọi tên “vật”, tuy nhiên “vật” ở đây là những khái niệm về số đếm chính xác mà trừu tượng” [2, tr. - Đại từ: là từ thay thế cho từ ngữ rõ nghĩa khác bên trong văn bản và có tác dụng thiết lập mối quan hệ với vật, hiện tượng ở bên ngoài văn bản.
- Mạo từ: là loại từ liên quan đến việc diễn đạt số lượng và tính xác định/phiếm định, buộc phải có danh từ đứng sau. 14 - Phó từ: là “từ có tính chất hư được dùng để mở rộng động từ, tính từ, đem lại cho chúng một số nghĩa nào đó” [2, tr. - Quan hệ từ: là những hư từ diễn đạt các quan hệ logic dùng để nối các từ, các tổ hợp từ, các câu, thậm chí các tổ chức lớn hơn câu với nhau. - Tình thái từ (tiểu từ tình thái): là “lớp từ có tính chất hư rất cao, phần lớn diễn đạt những sắc thái tình cảm rất tế nhị và dễ biến động trong mối quan hệ với từ, tổ hợp từ mà chúng đi kèm” [2, tr.
- Thán từ: là “từ-tín hiệu phản ánh các hiện tượng tâm sinh lí” [2,tr.Về chất lượng cấu tạo, có thể phân biệt làm thán từ đích thực và thán từ lâm thời. Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) của từ tiếng Việt 1.Khái niệm nghĩa của từ Có nhiều định nghĩa về nghĩa của từ. Tuy nhiên, trong đề tài này, chúng tôi đi theo quan điểm của A.Reformatsky khi cho rằng: “Nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ” [26, tr. Theo đó, nghĩa của từ hình thành do sự xác lập quan hệ với các yếu tố khác của ngôn ngữ và thực tại khách quan chứ không phải một bản thể và nó chỉ tồn tại trong ngôn ngữ, không tồn tại ngoài thực tế.
Các thành phần nghĩa của từ Theo Đỗ Hữu Châu, nghĩa của từ được chia thành hai loại là nghĩa trung tâm và nghĩa phi trung tâm. Đối với đại đa số thực từ (gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ), nghĩa trung tâm gồm có: a. Nghĩa biểu vật Là “loại sự vật được từ gọi tên, biểu thị” [11, tr. Nói cách khác, “sự vật, hiện tượng, đặc điểm ngoài ngôn ngữ được từ biểu thị tạo thành nghĩa biểu vật của từ” [10,tr.
Nghĩa biểu niệm Là “hiểu biết về nghĩa biểu vật của từ” [11,tr. Có thể hiểu nghĩa biểu niệm là “một cấu trúc do các nét nghĩa , tức là các nghĩa tố ngữ nghĩa nhỏ hơn hợp 15 thành. Các nét nghĩa này một phần phản ánh các thuộc tính của các sự vật ngoài ngôn ngữ, một phần do cấu trúc ngôn ngữ quy định” [11, tr. Ví dụ: cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ “ăn” gồm: [hoạt động nhai và nuốt], [đưa thức ăn vào cơ thể], [qua đường miệng], [để nuôi sống cơ thể].
Nghĩa phi trung tâm của từ gồm các nét nghĩa như sau: c. Nghĩa biểu thái Nghĩa biểu thái là nét nghĩa “biểu thị tình cảm, thái độ đánh giá xấu tốt đi kèm với nghĩa biểu niệm” [11,tr. Nghĩa liên hội Nghĩa liên hội (còn gọi là nghĩa liên tưởng), là “mỗi từ do được sử dụng trong những ngôn cảnh nhất định, do kinh nghiệm của từng người khi tiếp xúc với sự vật được nó gọi tên nên có thể mang những liên tưởng của cả một lớp người hay từng lớp cá nhân người” [11,tr. Nghĩa ngữ pháp Nghĩa ngữ pháp là một khuôn gồm các nét nghĩa chung của nghĩa biểu niệm của từ.
Đỗ Hữu Châu cho rằng, “từ tiếng Việt, do không có dấu hiệu của từ loại trong từ nên nhiều từ thường chuyển từ từ loại này sang từ loại khác. Nói chuyển từ loại có nghĩa là nghĩa biểu niệm của từ đi từ khuôn chung này sang khuôn chung khác” [11,tr. Bình diện kết học và nghĩa học của câu tiếng Việt 1. Khái quát chung về câu tiếng Việt Trước năm 1960, quan niệm về câu dựa vào quan niệm mệnh đề và “tính nọn nghĩa”.
Theo Trần Trọng Kim, “câu thành lập do một mệnh đề có nghĩa nọn hẳn hoặc do hai hay nhiều mệnh đề” [65, tr. Còn theo Nguyễn Lân, “nhiều từ hợp lại mà biểu thị được một ý hoàn chỉnh và dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật thì được gọi là một câu” [65, tr. Từ năm 1960 đến năm 1990, các định nghĩa về câu có chú ý đến những đặc điểm về cấu tạo (đặc trưng là một tổ hợp C-V), ngữ điệu (ngữ điệu kết thúc), nội dung (nghĩa hoàn chỉnh), chức năng (chức năng thông báo).