Đặc Điểm Ngôn Ngữ Giao Tiếp Trong Lực Lượng Công An Nhân Dân Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm ngôn ngữ vai giao tiếp trong lực lượng công an nhân dân việt nam qua một vài kịch bản phim, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

220
8
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Về Ngôn Ngữ Giao Tiếp Công An

Nghiên cứu về ngôn ngữ giao tiếp ngày càng được chú trọng. Vai giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn ngôn ngữ phù hợp. Quan hệ giao tiếp xây dựng dựa trên hệ thống các mối quan hệ xã hội. Mỗi cá nhân có nhiều vai khác nhau, từ gia đình đến xã hội. Việc lựa chọn vai giao tiếp phụ thuộc vào hoàn cảnh, nhân vật và chủ đề giao tiếp. Thành công của giao tiếp phụ thuộc vào việc xác định đúng vai. Trong lực lượng Công an nhân dân (CAND), vai giao tiếp được thể hiện trong Điều lệnh CAND. Mô hình xưng hô "tôi - đồng chí" là bắt buộc trong các cuộc họp, thể hiện tính chính thức. Ví dụ, cấp tướng cũng xưng "tôi" với cấp hạ sĩ quan và gọi là "đồng chí". Đây là đặc điểm nổi trội của lực lượng vũ trang nói chung và CAND nói riêng. Tuy nhiên, trong thực tế, các vai giao tiếp cũng thay đổi để phù hợp với bối cảnh. Ngôn ngữ vai giao tiếp còn thể hiện ở việc sử dụng hành vi ngôn ngữ gắn với mục đích giao tiếp.

1.1. Vai Giao Tiếp Yếu Tố Quyết Định Ngôn Ngữ Công An

Vai giao tiếp là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp công an. Việc lựa chọn vai phù hợp với văn hóa giao tiếp công an, bối cảnh và đối tượng giúp đạt hiệu quả cao nhất. Nghiên cứu này tập trung phân tích các đặc điểm ngôn ngữ liên quan đến vai giao tiếp, đặc biệt là trong các tình huống giao tiếp chính thức và không chính thức. Sự hiểu biết sâu sắc về vai giao tiếp giúp lực lượng công an nhân dân cải thiện kỹ năng giao tiếp, xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp và gần gũi với nhân dân.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Khoảng Trống Về Ngôn Ngữ Vai Giao Tiếp

Mặc dù ngôn ngữ giao tiếp đã được nghiên cứu rộng rãi, nhưng nghiên cứu về ngôn ngữ vai giao tiếp trong lực lượng công an nhân dân còn hạn chế. Hiện tại, chưa có công trình nào đi sâu vào phân tích các đặc điểm ngôn ngữ đặc trưng của từng vai giao tiếp trong ngành công an. Điều này tạo ra khoảng trống cần được lấp đầy bằng các nghiên cứu chuyên sâu, góp phần xây dựng chuẩn mực ngôn ngữ công an và nâng cao hiệu quả giao tiếp trong ngành.

II. Thách Thức Trong Giao Tiếp Của Lực Lượng Công An Hiện Nay

Lực lượng Công an nhân dân đối mặt với nhiều thách thức trong giao tiếp. Sự phức tạp của tình hình tội phạm đòi hỏi kỹ năng giao tiếp linh hoạt và hiệu quả. Giao tiếp với nhiều đối tượng khác nhau, từ nhân dân đến đối tượng, đòi hỏi sự khéo léo và am hiểu tâm lý giao tiếp. Rào cản ngôn ngữ và đa văn hóa cũng là những thách thức cần vượt qua. Việc xây dựng văn hóa giao tiếp công an hiệu quả là yếu tố then chốt để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự.

2.1. Rào Cản Ngôn Ngữ Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Giao Tiếp Công An

Rào cản ngôn ngữ có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả giao tiếp của lực lượng công an nhân dân. Sự khác biệt về ngôn ngữ, giọng điệu và cách diễn đạt có thể gây hiểu lầm, cản trở quá trình thu thập thông tin và xây dựng mối quan hệ tin cậy. Do đó, việc trang bị kỹ năng giao tiếp đa văn hóa và sử dụng ngôn ngữ phù hợp là vô cùng quan trọng đối với cán bộ công an.

2.2. Áp Lực Công Việc Giảm Khả Năng Giao Tiếp Thuyết Phục

Áp lực công việc và căng thẳng có thể làm giảm khả năng giao tiếp thuyết phục và hiệu quả của cán bộ công an. Thiếu thời gian và sự tập trung có thể dẫn đến giao tiếp thiếu kiên nhẫn, thô lỗ hoặc không chính xác. Do đó, cần có các biện pháp hỗ trợ cán bộ công an giảm căng thẳng và nâng cao kỹ năng giao tiếp trong môi trường làm việc áp lực cao.

2.3. Thiếu Kỹ Năng Giao Tiếp Với Người Dân Với Tội Phạm

Một số cán bộ công an có thể thiếu các kỹ năng giao tiếp cần thiết để tương tác hiệu quả với cả người dân và tội phạm. Sự thiếu hụt về kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu, và diễn đạt rõ ràng có thể gây khó khăn trong việc xây dựng mối quan hệ tin cậy với nhân dân và thu thập thông tin từ đối tượng.

III. Cách Ứng Xử Ngôn Ngữ Chính Thức Trong Lực Lượng Công An

Trong giao tiếp chính thức, lực lượng công an nhân dân tuân thủ các quy tắc và chuẩn mực nhất định. Xưng hô phải trang trọng, lịch sự, thể hiện sự tôn trọng cấp trên và đồng nghiệp. Ngôn ngữ hành chính công an được sử dụng trong văn bản và báo cáo. Hành vi ngôn ngữ phải phù hợp với tình huống và mục đích giao tiếp. Điều này giúp duy trì kỷ luật, hiệu quả và tính chuyên nghiệp trong công việc.

3.1. Xưng Hô Tôi Đồng Chí và Các Biến Thể Trong Ngành

Cặp xưng hô "tôi - đồng chí" là chuẩn mực trong giao tiếp công an, thể hiện sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể sử dụng các biến thể khác để phù hợp với cấp bậc và mối quan hệ. Điều quan trọng là phải duy trì sự trang trọng và lịch sự trong mọi tình huống.

3.2. Ngôn Ngữ Nghiệp Vụ Chuyên Môn Hóa Trong Thực Thi Công Vụ

Ngôn ngữ nghiệp vụ công an đóng vai trò quan trọng trong thực thi công vụ. Sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành giúp truyền đạt thông tin chính xác và hiệu quả trong các hoạt động điều tra, tuần tra và phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, cần đảm bảo rằng ngôn ngữ này dễ hiểu đối với người dân khi cần thiết.

IV. Bí Quyết Giao Tiếp Phi Chính Thức Hiệu Quả Trong Công An

Giao tiếp phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ và tạo không khí làm việc thoải mái trong lực lượng công an nhân dân. Xưng hô có thể thân mật hơn, nhưng vẫn phải giữ sự tôn trọng và lịch sự. Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng. Lắng nghe và thấu hiểu đồng nghiệp. Điều này giúp tăng cường sự đoàn kết và hợp tác trong công việc.

4.1. Tương Tác Nội Bộ Xây Dựng Mối Quan Hệ Đồng Nghiệp Tốt

Trong tương tác nội bộ, giao tiếp phi chính thức giúp xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp tốt. Chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau và tạo không khí vui vẻ giúp tăng cường tinh thần đồng đội và hiệu quả công việc. Tuy nhiên, cần tránh những hành vi giao tiếp không phù hợp, gây ảnh hưởng đến uy tín của ngành.

4.2. Tương Tác Cộng Đồng Tạo Dựng Niềm Tin Với Nhân Dân

Trong tương tác với cộng đồng, giao tiếp phi chính thức giúp tạo dựng niềm tin với nhân dân. Cán bộ công an cần thể hiện sự thân thiện, cởi mở và sẵn sàng lắng nghe. Sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và tránh những hành vi giao tiếp gây phản cảm. Điều này giúp củng cố mối quan hệ giữa lực lượng công an nhân dânnhân dân.

4.3. Bí quyết giao tiếp hiệu quả với đồng nghiệp

Để giao tiếp hiệu quả với đồng nghiệp, cần lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau, chia sẻ thông tin một cách minh bạch và trung thực, và tránh những lời nói hoặc hành động gây tổn thương. Đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu rõ hơn quan điểm và cảm xúc của họ, từ đó xây dựng mối quan hệ làm việc tích cực và bền vững.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Công An

Việc nâng cao kỹ năng giao tiếp cho lực lượng công an nhân dân là vô cùng quan trọng. Tổ chức các khóa đào tạo về giao tiếp ứng xử công an, tâm lý giao tiếpgiao tiếp đa văn hóa. Xây dựng các tình huống mô phỏng để cán bộ thực hành. Đánh giá và phản hồi thường xuyên để cải thiện kỹ năng. Điều này giúp lực lượng công an nhân dân giao tiếp hiệu quả hơn trong mọi tình huống.

5.1. Đào Tạo Kỹ Năng Mềm Lắng Nghe Thuyết Phục Giải Quyết Xung Đột

Đào tạo kỹ năng mềm, bao gồm kỹ năng lắng nghe, thuyết phục và giải quyết xung đột, là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả giao tiếp cho cán bộ công an. Cán bộ cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để hiểu rõ tâm lý giao tiếp của các đối tượng khác nhau và có khả năng giao tiếp hiệu quả trong các tình huống phức tạp.

5.2. Xây Dựng Chuẩn Mực Quy Tắc Ứng Xử Văn Phong Công An

Việc xây dựng chuẩn mực ngôn ngữ công an, bao gồm quy tắc ứng xửvăn phong công an, giúp đảm bảo tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong giao tiếp. Các quy tắc này cần được phổ biến rộng rãi và tuân thủ nghiêm ngặt trong toàn ngành.

VI. Tương Lai Phát Triển Ngôn Ngữ Giao Tiếp Công An Trong Kỷ Nguyên Số

Trong kỷ nguyên số, ngôn ngữ giao tiếp của lực lượng công an nhân dân cần phát triển để đáp ứng yêu cầu mới. Sử dụng giao tiếp qua điện thoại, giao tiếp qua văn bảngiao tiếp trực tuyến. Xây dựng các kênh giao tiếp hiện đại để tương tác với nhân dân. Chú trọng giao tiếp trên mạng xã hội. Điều này giúp lực lượng công an nhân dân gần gũi hơn với nhân dân và hiệu quả hơn trong công tác phòng chống tội phạm.

6.1. Giao Tiếp Trực Tuyến Mạng Xã Hội và Hình Ảnh Công An

Giao tiếp trực tuyến trên mạng xã hội là một kênh quan trọng để xây dựng hình ảnh tích cực của lực lượng công an nhân dân. Cán bộ cần sử dụng ngôn ngữ phù hợp và tránh những hành vi giao tiếp gây phản cảm. Tích cực tương tác với nhân dân và cung cấp thông tin chính xác và kịp thời.

6.2. Ứng Dụng AI Hỗ Trợ Phân Tích Ngôn Ngữ và Tâm Lý Tội Phạm

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ phân tích ngôn ngữtâm lý tội phạm, giúp cán bộ công an hiểu rõ hơn động cơ và hành vi của đối tượng. AI cũng có thể được sử dụng để phát hiện các dấu hiệu giao tiếp đáng ngờ và dự đoán nguy cơ phạm tội.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ vai giao tiếp trong lực lượng công an nhân dân việt nam qua một vài kịch bản phim

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của luận án. Chƣơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ các vai giao tiếp trong lực lượng Công an nhân dân trong giao tiếp chính thức. Chƣơng 3: Đặc điểm ngôn ngữ các vai giao tiếp trong lực lượng Công an nhân dân trong giao tiếp phi chính thức.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về vai giao tiếp 1. Trên thế giới Trong giao tiếp, các quan hệ quyền lực và thân hữu luôn hiện hữu trong mọi cấu trúc xã hội. Điều này lí giải, hai quan hệ này thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau, trong đó có ngôn ngữ học.

Tiếp cận đối tƣợng ở những hƣớng khác nhau trên hệ tƣ tƣởng chung của ngành, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học lại có những cách tiếp cận khác nhau. Trên cơ sở tìm hiểu, chúng tôi điểm qua một số hƣớng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nhƣ: Thứ nhất, nghiên cứu về quan hệ giao tiếp trong giao tiếp. Tiêu biểu cho hƣớng nghiên cứu này là: Michael Focault (triết gia ngƣời Pháp; 1926 – 1984), Pierre Bourdieu (1930 - 2002),. Michael Forcault đƣợc xem là ngƣời đầu tiên nhận ra và đƣa lí luận về quan hệ quyền lực vào trong việc lựa chọn vai và sử dụng ngôn ngữ.

Bằng việc chỉ ra và phân tích ba đặc điểm cơ bản về quyền lực và ngôn ngữ, tác giả Forcault đã chỉ ra: “trong các tương quan của con người, cho dù các tương quan đó bao gồm sự giao tiếp bằng lời nói như chúng ta đang tham gia ngay lúc này, hay những tương quan kinh tế, thể chế, tình yêu, thì quyền lực luôn có mặt. Điều này đồng nghĩa với việc cho rằng quan hệ quyền lực là quan hệ có sẵn trong xã hội để các cá nhân lựa chọn vai giao tiếp cũng nhƣ mã ngôn ngữ phù hợp. Tiếp sau Focault, Pierre Bourdieu đã phát triển, mở rộng mối quan hệ quyền lực, vai giao tiếp và ngôn ngữ. Cùng với việc chỉ ra mối quan hệ quyền lực và các hình thức chiếm hữu của nhà nƣớc, tác giả đồng thời nêu ra: vị thế của mỗi 15 (LUAN.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) cá nhân trong không gian xã hội không tồn tại tự nó, mà tồn tại trong sự so sánh với số lƣợng tƣ bản do các cá nhân khác sở hữu.

Minh chứng cho điều này, Pierre Bourdier đã đƣa ra ví dụ: xem xét ở phạm vi pháp đình, sự chênh lệch về nguồn lực ngôn ngữ (lƣợng từ vựng chuyên ngành luật, khả năng sử dụng cấu trúc cú pháp phức tạp, hiểu biết về nghi thức giao tiếp ngôn ngữ tòa án.) sẽ đƣa đến sự chênh lệch về quyền lực giữa một bên là những ngƣời tiến hành tố tụng; một bên là những ngƣời tham gia tố tụng. Khái niệm quyền lực tƣợng trƣng của Bourdieu đã cung cấp một khung phân tích cho mối quan hệ quyền lực và ngôn ngữ khá cụ thể, gắn với những ngữ cảnh cụ thể trong giao tiếp. [36] Một trong những công trình đáng chú ý thuộc hƣớng nghiên cứu này là “Language and Power” của tác giả Norman Fairclough: “bàn về cách ngôn ngữ hoạt động để duy trì và thay đổi các mối quan hệ quyền lực trong xã hội đương đại và cách hiểu các quy trình này có thể cho phép con người phản ứng linh hoạt và thay đổi chúng. x + 248] Dựa trên năm mối quan hệ tích cực giữa ngôn ngữ và quyền lực trong giao tiếp xuất hiện từ các nghiên cứu ngôn ngữ học, xã hội học, phân tích hội thoại, tâm lí học xã hội của ngôn ngữ và giao tiếp, đồng tác giả Sik Hung Ng và Fie Deng đã chỉ ra hai trong số các mối quan hệ đó xuất phát từ quyền lực ẩn sau ngôn ngữ mà nó thể hiện và quyền lực tồn tại ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô: “Ở cấp độ vi mô, quyền lực ẩn sau ngôn ngữ là những nhân tố thuộc sở hữu của người phát ngôn như vũ khí, tiền bạc, địa vị xã hội hoặc những phẩm chất cá nhân khác – những nhân tố đó được thể hiện thông qua ngôn ngữ, người nói tác động đến người nghe.

Ở cấp độ vĩ mô, quyền lực phía sau ngôn ngữ là sức mạnh tập thể (sức sống của ngôn ngữ dân tộc) của cộng đồng nói ngôn ngữ đó” [120, tr. Thứ hai, nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp. Brown và Gilman trong công trình “The pronouns of power and solidarity”[95] thông qua khảo sát hai quan hệ “quyền lực” và “thân hữu” 16 (LUAN.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) trong nghiên cứu đại từ nhân xƣng ở tiếng Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha đã nhận định rằng: “Việc sử dụng T hay V có quan hệ mật thiết tới kết cấu xã hội và ý thức cộng đồng”[49, tr. Chẳng hạn, từ thế kỉ thứ XII đến thế kỉ thứ XIV, trong các ngôn ngữ Châu Âu đã hình thành một chuẩn về ý nghĩa quyền lực mang tính phi tƣơng hỗ: ngƣời có quyền đƣợc dùng T, còn ngƣời khác đối với ngƣời có quyền lực phải dùng V.

(hai chữ T và V (từ hai từ tu và vos trong tiếng Latinh), hai kí hiệu chung cho đại từ chỉ sự thân hữu và đại từ chỉ sự quyền lực trong tất cả các ngôn ngữ. Đối với những ngƣời có quyền lực ngang nhau, việc xƣng hô lúc đầu là không có khu biệt (mà chỉ căn cứ vào địa vị cao thấp trong xã hội để sử dụng T hoặc V). Mãi về sau mới có sự phân hóa, T trở thành tiêu chí gần gũi, V trở thành tiêu chí mang tính lễ nghi. Nhân tố này tạo nên mối quan hệ thân hữu.

Nhân tố kết liên lúc đầu chỉ dùng để xƣng hô giữa những ngƣời có quyền lực ngang nhau [49, tr. Nghiên cứu về xƣng hô của các vai giao tiếp còn có tác giả Elizabeth Bates và Laura Benigni với cuộc khảo sát đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai trong tiếng Ý. Tác giả phát hiện ra rằng, cách dùng đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai trong tiếng Ý chịu ảnh hƣởng rất lớn của mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố tuổi tác và giai cấp. Ngoài ra, còn có tác giả Paul Friedrich cũng có công trình nghiên cứu về đại từ nhân xƣng ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ 2 trong tiếng Nga.

Ngƣời có quân hàm cao hơn, có trình độ cao hơn, quyền chức cao hơn sẽ có cách xƣng hô khác với những ngƣời có quân hàm thấp hơn, có trình độ thấp hơn, quyền chức thấp hơn. Christine Bratt Paulston – tiến hành khảo sát đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai trong tiếng Thụy Điển. Thứ ba, nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp. Có thể kể đến một số nghiên cứu đề cập đến hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp nhƣ: Lí thuyết hành vi ngôn ngữ do nhà triết học J.

Searle (1968, 1979) khai sinh và củng cố. Searle đã khắc phục những điểm bất 17 (LUAN.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) nhất của Austin để đƣa ra 12 quan điểm khác biệt, quy chiếu thành bốn tiêu chí và xác lập đƣợc năm nhóm hành vi ngôn từ lớn. Với từng nhóm hành vi ngôn ngữ, tác giả đã nêu những đặc trƣng của nhóm và quy định giữa ngƣời nói (Sp1) và ngƣời nghe (Sp2) thực hiện một việc nào đó trong tƣơng lai. Điều này đã gián tiếp khẳng định sự có mặt của năm nhóm hành vi ngôn, từ đó là sự khẳng định cƣơng vị - vai giao tiếp giữa Sp1 và Sp2.

Theo đó, các mức độ của quyền lực và thân hữu trên thang độ quan hệ đƣợc thiết lập từ quyền lực tuyệt đối đến thân hữu tuyệt đối. Ứng với các mức độ này là các hành vi ngôn ngữ khác nhau. Các tác giả cùng hƣớng nghiên cứu này nhƣ: A.Bach, … Qua nghiên cứu hành vi ngôn ngữ gián tiếp xác lập quan hệ giao tiếp với các vai cụ thể. Bên cạnh việc xác định vai giao tiếp là điều kiện để tạo lập hành vi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến hiện tƣợng lịch sự.

Các tác giả tiêu biểu nhƣ: R. Levinson,… Dựa vào ba quy tắc lịch sự (không đƣợc áp đặt, dành cho ngƣời đối thoại sự lựa chọn và khuyến khích tình cảm bạn bè), R. Lakoff đã chỉ ra rằng, mỗi quy tắc thích hợp với một ngữ cảnh nhất định: quy tắc thứ nhất phù hợp vời hành vi mà vị thế của Sp1 cao hơn Sp2, lợi ích hành vi thuộc về Sp1; quy tắc thứ hai phù hợp với những hoàn cảnh mà Sp1 và Sp2 có vị thế tƣơng đƣơng nhau không thân cận; quy tắc thứ ba thích hợp với những hoàn cảnh mà nhân vật giao tiếp có vị thế ngang và có quan hệ thân cận. Ở Việt Nam Kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu trên thế giới.

Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã thu đƣợc những thành tựu trong nghiên cứu về giao tiếp nói chung, quan hệ giao tiếp và vai giao tiếp nói riêng. Trên cơ sở tìm hiểu, chúng tôi điểm qua một số hƣớng nghiên cứu với các tác giả tiêu biểu nhƣ: 1/ Nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp 18 (LUAN.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) - Khi nghiên cứu về sự chi phối của vai giao tiếp trong việc lựa chọn và sử dụng từ xƣng hô, tác giả Nguyễn Văn Khang đã dành một nội dung trong công trình “Ngôn ngữ học xã hội” nghiên cứu về xƣng hô. Tác giả đã vận dụng khái niệm “quyền thế” và “kết liên” để chỉ ra 13 kiểu xƣng hô và những nhân tố chi phối việc lựa chọn từ xƣng hô - đây đƣợc xem là nghiên cứu có tính chất nền tảng cho nghiên cứu xƣng hô từ góc độ vai giao tiếp ở giai đoạn tiếp sau. Cùng hƣớng nghiên cứu này có các tác giả với các công trình nghiên cứu nhƣ: Vũ Tiến Dũng với “Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (qua một số hành động nói)”; Phạm Trọng Thƣởng với “Sự chi phối của vai giao tiếp tới cách sử dụng từ xưng hô trong hội thoại”,….

- Nghiên cứu xƣng hô dƣới góc độ văn hóa có thể nhắc đến các nghiên cứu của các tác giả sau: Trong công trình “Các cách xưng hô trong tiếng Nùng” [59], tác giả Phạm Trọng Thƣởng tập trung nghiên cứu cách xƣng hô trong hội thoại tiếng Tày nhƣ là một đơn vị của ngôn ngữ trong trạng thái hoạt động, trạng thái hành chức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ