phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của luận án. Chƣơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ các vai giao tiếp trong lực lượng Công an nhân dân trong giao tiếp chính thức. Chƣơng 3: Đặc điểm ngôn ngữ các vai giao tiếp trong lực lượng Công an nhân dân trong giao tiếp phi chính thức.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về vai giao tiếp 1. Trên thế giới Trong giao tiếp, các quan hệ quyền lực và thân hữu luôn hiện hữu trong mọi cấu trúc xã hội. Điều này lí giải, hai quan hệ này thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau, trong đó có ngôn ngữ học.
Tiếp cận đối tƣợng ở những hƣớng khác nhau trên hệ tƣ tƣởng chung của ngành, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học lại có những cách tiếp cận khác nhau. Trên cơ sở tìm hiểu, chúng tôi điểm qua một số hƣớng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nhƣ: Thứ nhất, nghiên cứu về quan hệ giao tiếp trong giao tiếp. Tiêu biểu cho hƣớng nghiên cứu này là: Michael Focault (triết gia ngƣời Pháp; 1926 – 1984), Pierre Bourdieu (1930 - 2002),. Michael Forcault đƣợc xem là ngƣời đầu tiên nhận ra và đƣa lí luận về quan hệ quyền lực vào trong việc lựa chọn vai và sử dụng ngôn ngữ.
Bằng việc chỉ ra và phân tích ba đặc điểm cơ bản về quyền lực và ngôn ngữ, tác giả Forcault đã chỉ ra: “trong các tương quan của con người, cho dù các tương quan đó bao gồm sự giao tiếp bằng lời nói như chúng ta đang tham gia ngay lúc này, hay những tương quan kinh tế, thể chế, tình yêu, thì quyền lực luôn có mặt. Điều này đồng nghĩa với việc cho rằng quan hệ quyền lực là quan hệ có sẵn trong xã hội để các cá nhân lựa chọn vai giao tiếp cũng nhƣ mã ngôn ngữ phù hợp. Tiếp sau Focault, Pierre Bourdieu đã phát triển, mở rộng mối quan hệ quyền lực, vai giao tiếp và ngôn ngữ. Cùng với việc chỉ ra mối quan hệ quyền lực và các hình thức chiếm hữu của nhà nƣớc, tác giả đồng thời nêu ra: vị thế của mỗi 15 (LUAN.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) cá nhân trong không gian xã hội không tồn tại tự nó, mà tồn tại trong sự so sánh với số lƣợng tƣ bản do các cá nhân khác sở hữu.
Minh chứng cho điều này, Pierre Bourdier đã đƣa ra ví dụ: xem xét ở phạm vi pháp đình, sự chênh lệch về nguồn lực ngôn ngữ (lƣợng từ vựng chuyên ngành luật, khả năng sử dụng cấu trúc cú pháp phức tạp, hiểu biết về nghi thức giao tiếp ngôn ngữ tòa án.) sẽ đƣa đến sự chênh lệch về quyền lực giữa một bên là những ngƣời tiến hành tố tụng; một bên là những ngƣời tham gia tố tụng. Khái niệm quyền lực tƣợng trƣng của Bourdieu đã cung cấp một khung phân tích cho mối quan hệ quyền lực và ngôn ngữ khá cụ thể, gắn với những ngữ cảnh cụ thể trong giao tiếp. [36] Một trong những công trình đáng chú ý thuộc hƣớng nghiên cứu này là “Language and Power” của tác giả Norman Fairclough: “bàn về cách ngôn ngữ hoạt động để duy trì và thay đổi các mối quan hệ quyền lực trong xã hội đương đại và cách hiểu các quy trình này có thể cho phép con người phản ứng linh hoạt và thay đổi chúng. x + 248] Dựa trên năm mối quan hệ tích cực giữa ngôn ngữ và quyền lực trong giao tiếp xuất hiện từ các nghiên cứu ngôn ngữ học, xã hội học, phân tích hội thoại, tâm lí học xã hội của ngôn ngữ và giao tiếp, đồng tác giả Sik Hung Ng và Fie Deng đã chỉ ra hai trong số các mối quan hệ đó xuất phát từ quyền lực ẩn sau ngôn ngữ mà nó thể hiện và quyền lực tồn tại ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô: “Ở cấp độ vi mô, quyền lực ẩn sau ngôn ngữ là những nhân tố thuộc sở hữu của người phát ngôn như vũ khí, tiền bạc, địa vị xã hội hoặc những phẩm chất cá nhân khác – những nhân tố đó được thể hiện thông qua ngôn ngữ, người nói tác động đến người nghe.
Ở cấp độ vĩ mô, quyền lực phía sau ngôn ngữ là sức mạnh tập thể (sức sống của ngôn ngữ dân tộc) của cộng đồng nói ngôn ngữ đó” [120, tr. Thứ hai, nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp. Brown và Gilman trong công trình “The pronouns of power and solidarity”[95] thông qua khảo sát hai quan hệ “quyền lực” và “thân hữu” 16 (LUAN.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) trong nghiên cứu đại từ nhân xƣng ở tiếng Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha đã nhận định rằng: “Việc sử dụng T hay V có quan hệ mật thiết tới kết cấu xã hội và ý thức cộng đồng”[49, tr. Chẳng hạn, từ thế kỉ thứ XII đến thế kỉ thứ XIV, trong các ngôn ngữ Châu Âu đã hình thành một chuẩn về ý nghĩa quyền lực mang tính phi tƣơng hỗ: ngƣời có quyền đƣợc dùng T, còn ngƣời khác đối với ngƣời có quyền lực phải dùng V.
(hai chữ T và V (từ hai từ tu và vos trong tiếng Latinh), hai kí hiệu chung cho đại từ chỉ sự thân hữu và đại từ chỉ sự quyền lực trong tất cả các ngôn ngữ. Đối với những ngƣời có quyền lực ngang nhau, việc xƣng hô lúc đầu là không có khu biệt (mà chỉ căn cứ vào địa vị cao thấp trong xã hội để sử dụng T hoặc V). Mãi về sau mới có sự phân hóa, T trở thành tiêu chí gần gũi, V trở thành tiêu chí mang tính lễ nghi. Nhân tố này tạo nên mối quan hệ thân hữu.
Nhân tố kết liên lúc đầu chỉ dùng để xƣng hô giữa những ngƣời có quyền lực ngang nhau [49, tr. Nghiên cứu về xƣng hô của các vai giao tiếp còn có tác giả Elizabeth Bates và Laura Benigni với cuộc khảo sát đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai trong tiếng Ý. Tác giả phát hiện ra rằng, cách dùng đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai trong tiếng Ý chịu ảnh hƣởng rất lớn của mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố tuổi tác và giai cấp. Ngoài ra, còn có tác giả Paul Friedrich cũng có công trình nghiên cứu về đại từ nhân xƣng ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ 2 trong tiếng Nga.
Ngƣời có quân hàm cao hơn, có trình độ cao hơn, quyền chức cao hơn sẽ có cách xƣng hô khác với những ngƣời có quân hàm thấp hơn, có trình độ thấp hơn, quyền chức thấp hơn. Christine Bratt Paulston – tiến hành khảo sát đại từ nhân xƣng ngôi thứ hai trong tiếng Thụy Điển. Thứ ba, nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp. Có thể kể đến một số nghiên cứu đề cập đến hành vi ngôn ngữ của các vai giao tiếp nhƣ: Lí thuyết hành vi ngôn ngữ do nhà triết học J.
Searle (1968, 1979) khai sinh và củng cố. Searle đã khắc phục những điểm bất 17 (LUAN.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) nhất của Austin để đƣa ra 12 quan điểm khác biệt, quy chiếu thành bốn tiêu chí và xác lập đƣợc năm nhóm hành vi ngôn từ lớn. Với từng nhóm hành vi ngôn ngữ, tác giả đã nêu những đặc trƣng của nhóm và quy định giữa ngƣời nói (Sp1) và ngƣời nghe (Sp2) thực hiện một việc nào đó trong tƣơng lai. Điều này đã gián tiếp khẳng định sự có mặt của năm nhóm hành vi ngôn, từ đó là sự khẳng định cƣơng vị - vai giao tiếp giữa Sp1 và Sp2.
Theo đó, các mức độ của quyền lực và thân hữu trên thang độ quan hệ đƣợc thiết lập từ quyền lực tuyệt đối đến thân hữu tuyệt đối. Ứng với các mức độ này là các hành vi ngôn ngữ khác nhau. Các tác giả cùng hƣớng nghiên cứu này nhƣ: A.Bach, … Qua nghiên cứu hành vi ngôn ngữ gián tiếp xác lập quan hệ giao tiếp với các vai cụ thể. Bên cạnh việc xác định vai giao tiếp là điều kiện để tạo lập hành vi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến hiện tƣợng lịch sự.
Các tác giả tiêu biểu nhƣ: R. Levinson,… Dựa vào ba quy tắc lịch sự (không đƣợc áp đặt, dành cho ngƣời đối thoại sự lựa chọn và khuyến khích tình cảm bạn bè), R. Lakoff đã chỉ ra rằng, mỗi quy tắc thích hợp với một ngữ cảnh nhất định: quy tắc thứ nhất phù hợp vời hành vi mà vị thế của Sp1 cao hơn Sp2, lợi ích hành vi thuộc về Sp1; quy tắc thứ hai phù hợp với những hoàn cảnh mà Sp1 và Sp2 có vị thế tƣơng đƣơng nhau không thân cận; quy tắc thứ ba thích hợp với những hoàn cảnh mà nhân vật giao tiếp có vị thế ngang và có quan hệ thân cận. Ở Việt Nam Kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu trên thế giới.
Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã thu đƣợc những thành tựu trong nghiên cứu về giao tiếp nói chung, quan hệ giao tiếp và vai giao tiếp nói riêng. Trên cơ sở tìm hiểu, chúng tôi điểm qua một số hƣớng nghiên cứu với các tác giả tiêu biểu nhƣ: 1/ Nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp 18 (LUAN.phim) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.phim) - Khi nghiên cứu về sự chi phối của vai giao tiếp trong việc lựa chọn và sử dụng từ xƣng hô, tác giả Nguyễn Văn Khang đã dành một nội dung trong công trình “Ngôn ngữ học xã hội” nghiên cứu về xƣng hô. Tác giả đã vận dụng khái niệm “quyền thế” và “kết liên” để chỉ ra 13 kiểu xƣng hô và những nhân tố chi phối việc lựa chọn từ xƣng hô - đây đƣợc xem là nghiên cứu có tính chất nền tảng cho nghiên cứu xƣng hô từ góc độ vai giao tiếp ở giai đoạn tiếp sau. Cùng hƣớng nghiên cứu này có các tác giả với các công trình nghiên cứu nhƣ: Vũ Tiến Dũng với “Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (qua một số hành động nói)”; Phạm Trọng Thƣởng với “Sự chi phối của vai giao tiếp tới cách sử dụng từ xưng hô trong hội thoại”,….
- Nghiên cứu xƣng hô dƣới góc độ văn hóa có thể nhắc đến các nghiên cứu của các tác giả sau: Trong công trình “Các cách xưng hô trong tiếng Nùng” [59], tác giả Phạm Trọng Thƣởng tập trung nghiên cứu cách xƣng hô trong hội thoại tiếng Tày nhƣ là một đơn vị của ngôn ngữ trong trạng thái hoạt động, trạng thái hành chức.