CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu lời chúc ở nước ngoài Theo các nguồn tư liệu mà chúng tôi tiếp cận được, các nghiên cứu về lời chúc ở nước ngoài đi theo một số đường hướng như sau: nghiên cứu lời chúc dưới góc độ cấu trúc hệ thống, nghiên cứu lời chúc như một chiến lược giao tiếp, nghiên cứu lời chúc dưới góc độ văn hóa và giao văn hóa. Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các hướng nghiên cứu này.
Nghiên cứu lời chúc dưới góc độ cấu trúc hệ thống Ở khuynh hướng nghiên cứu này có thể kể đến các nghiên cứu của Hawraa Hassan Oraiby [1], Svetlana Kochovska [2]. Các tác giả đã tập trung miêu tả cấu trúc ngữ pháp của lời chúc: cấu trúc câu, các phương tiện từ vựng, ngữ pháp thể hiện trong lời chúc. Hawraa Hassan Oraiby, trong công trình [1] đã nghiên cứu khả năng nhận biết và sử dụng lời chúc trong những tình huống khác nhau của 30 sinh viên năm thứ 4 Khoa Tiếng Anh của Trường Đại học Thiqar, Iraq. Tác giả đã chỉ ra sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc nhận biết và sử dụng lời chúc.
Các sinh viên nữ tỏ ra xuất sắc hơn sinh viên nam trong việc nhận biết các tình huống và đưa ra lời chúc phù hợp trong các tình huống cho trước. Các sinh viên người Iraq ưa thích sử dụng những lời chúc mang tính công thức: (kiểu như Happy birthday! Happy New year!…) hơn là các lời chúc mang tính nghi thức, vì họ cho rằng lời chúc ngắn gọn hơn thì chân thành hơn. Tác giả cũng thống kê, phân loại và miêu tả 8 mô hình lời chúc thường được các sinh viên sử dụng. Svetlana Kochovska [2] nghiên cứu biểu thức chúc mừng trong các bức thư của Marcus Tullius Cicero - một triết gia, nhà hùng biện, chính khách, nhà lí luận chính trị La Mã.
9 Biểu thức chúc mừng trong những bức thư của Cicero có thể được chia thành hai nhóm: biểu thức chúc mừng với dấu hiệu ngôn hành và biểu thức thể hiện niềm vui đối với thành công của người nghe. Ở nhóm thứ nhất, các biểu thức chúc mừng là câu tường thuật, trong đó động từ “gratulari” (chúc mừng) được sử dụng chủ yếu ở ngôi thứ nhất thì hiện tại của thức chỉ định - gratulor. Nhóm thứ hai sử dụng các biểu thức thể hiện niềm vui: “tôi rất vui”, “tôi rất mừng khi nghe tin”… Chức năng của các biểu thức này, trong nhiều trường hợp là độc lập, giống với chức năng của các biểu thức chứa dấu hiệu ngôn hành IFIDs. Các phương tiện từ vựng phổ biến trong biểu thức thể hiện niềm vui là các động từ laetari (cùng ý nghĩa với to rejoice; to be glad; to be delighed trong tiếng Anh) được sử dụng ở ngôi thứ nhất, thì hiện tại, và gaudere (to be glad, to be pleased, to rejoice) được sử dụng ở ngôi thứ nhất, thì hiện tại hoàn thành.
Nghiên cứu cũng cho thấy việc lựa chọn biểu thức chúc mừng phụ thuộc vào các tình huống giao tiếp và mối quan hệ của những người tham gia giao tiếp. Nghiên cứu chúc như một chiến lược giao tiếp Theo hướng nghiên cứu này các tác giả Elwood [3], Hamid Allami và Maryam Nekouzadeh [4] đã phân tích các chiến lược chúc mừng được sử dụng trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau. Đáng chú ý nhất trong các nghiên cứu thuộc khuynh hướng này phải kể đến nghiên cứu của Elwood [3]. Bằng việc phân tích ngữ liệu thu được từ các phiếu câu hỏi diễn ngôn (DCT – Discourse Completion Test), Elwood [3] đã đề xuất và phân loại 14 chiến lược chúc mừng: 1) Illocutionary force indicating device (IFIDs)- (sử dụng) các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời; 2) Expression of happiness - biểu lộ niềm hạnh phúc; 3) Request for information - yêu cầu thông tin; 4) Expression of validation - thể hiện sự công nhận; 5) Self-related comments - đưa ra những nhận xét liên quan đến bản thân; 6) Exclamination/expression of surprise - cảm thán/thể hiện sự ngạc nhiên; 7) Offer of good wishes - gửi lời chúc tốt đẹp; 8) Encouragement - khuyến khích; 9) Joking - trêu đùa; 10) Affection expression - thể hiện tình cảm; 11) A suggestion to celebrate - đề 10 nghị ăn mừng; 12) Thanking God - gửi lời cảm ơn chúa; 13) Offer of help - đưa ra lời đề nghị giúp đỡ; 14) Statement assessing the situation negatively – đưa ra các tuyên bố đánh giá tiêu cực.
Mô hình các chiến lược chúc mừng do Kate Elwood đề xuất được đánh giá là khá toàn diện và nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng làm cơ sở cho các nghiên cứu về chúc sau này. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, lí thuyết của Elwood còn một số hạn chế: Thứ nhất, một số chiến lược chúc chồng chéo nhau. Ví dụ: có thể tích hợp ba chiến lược (2) Expression of happiness, chiến lược (6) Exclamination và chiến lược (10) Affection expression thành một chiến lược là: expressing feeling (thể hiện cảm xúc). Thứ hai: một số cách chúc mừng tương đối phổ biến, thường gặp trong đời sống không thể đặt trong mô hình của Elwood.
Thứ ba: Một số chiến lược trong mô hình của Elwood không được coi là chúc mừng. Ví dụ: Chiến lược (13) “Offer of help” (đưa ra đề nghị giúp đỡ), (14) Statement assessing the situation negatively (đưa ra các tuyên bố đánh giá tiêu cực) hoặc chiến lược (5) “Self-related comments” (đưa ra những nhận xét liên quan đến bản thân). Hamid Allami và Maryam Nekouzadeh [4] nghiên cứu các chiến lược chúc mừng và chiến lược lịch sự dương tính người Iran sử dụng trong giao tiếp. Các tác giả sử dụng bảng phân loại các chiến lược chúc mừng do Elwood và bảng phân loại các chiến lược lịch sự tích cực do Brown và Levison đề xuất, từ đó tổng hợp được 5 chiến lược chính được người Iran sử dụng để chúc mừng là: IFIDs (sử dụng các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời); “expression of happiness” (biểu lộ cảm xúc);“Offer of good wishes” (gửi lời chúc tốt đẹp); “request for information” (yêu cầu thông tin) và “expression of validation” (Thể hiện sự công nhận).
Các chiến lược chúc được sử dụng với tần suất khác nhau trong những tình huống giao tiếp khác nhau. Nghiên cứu lời chúc dưới góc độ văn hóa Ở khuynh hướng này các tác giả tìm hiểu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa dân tộc tới việc sử dụng lời chúc trong hoạt động giao tiếp. Tiêu biểu có các công trình của G.Emery [5] nghiên cứu về lời chào, chúc mừng và khen ngợi trong tiếng Oman. Thông qua việc tìm hiểu lời chúc trong các dịp cưới, khi sinh con và những ngày lễ tôn giáo, tác giả chỉ ra sự khác biệt trong lời chúc ở hai nhóm xã hội: người lớn tuổi và trẻ tuổi; nam và nữ.
Marki-Tsilipako trong công trình [6] đã phân tích sự khác biệt trong việc dùng “chúc mừng” (congratulation) và “tán thưởng” (bravo) trong văn hóa Hi Lạp. nghiên cứu các tin nhắn chúc mừng qua email giữa các sinh viên đại học Thổ Nhĩ Kì. Tác giả chỉ ra sự khác biệt trong lời chúc phụ thuộc vào hai yếu tố chính đó là giới tính của người gửi và chủ đề của thông điệp chúc mừng (dẫn theo [8]). Nghiên cứu chúc dưới góc độ giao văn hóa Ở hướng nghiên cứu này, lời chúc được đặt dưới góc nhìn đối sánh trong các ngôn ngữ, các nền văn hóa khác nhau.
Đây là hướng nghiên cứu khá phổ biến, được nhiều tác giả quan tâm: Reza Pishghadam và Mostafa Morady Moghadam [9], Ali Jahangard, Neda Khanlarzade, Ashkan Latifi [10]. Các tác giả đã miêu tả các yếu tố xã hội, văn hóa, tâm lí dân tộc và bối cảnh giao tiếp ảnh hưởng đến việc sử dụng các chiến lược chúc trong giao tiếp. Reza Pishghadam và Mostafa Morady Moghadam [9] so sánh hành động chúc mừng trong tiếng Anh và tiếng Iran. Dựa trên mô hình các chiến lược của Elwood, các tác giả đã xây dựng mô hình chiến lược chúc mừng mới gồm 06 chiến lược.
Sau khi thu thập, phân tích ngữ liệu qua các phiếu điều tra các tác giả rút ra kết luận về cách thức sử dụng lời chúc trong tiếng Anh và tiếng Iran. Những người nói tiếng Anh thường sử dụng các mẫu lời chúc mang tính cá nhân cao, trong khi những người nói tiếng Iran thường sử dụng những lời chúc thể hiện sự hòa đồng với những người đối thoại. Người nói tiếng Anh thường xuyên sử dụng chiến lược chúc “Expressing feeling” (thể hiện cảm xúc) 12 vì các quốc gia nói tiếng Anh đề cao giá trị cá nhân, cảm xúc của người nói và việc thiết lập các mối quan hệ xã hội rất được coi trọng. Trái ngược với văn hóa phương Tây đề cao cá nhân, xã hội phương Đông đề cao tính tập thể - cái “Ta”, con người có xu hướng hạn chế thể hiện cảm xúc bản thân vì thế người nói tiếng Iran sử dụng ít chiến lược “Expressing feeling” (thể hiện cảm xúc) hơn người nói tiếng Anh (16.
Nhóm tác giả Ali Jahangard, Neda Khanlarzade, Ashkan Latifi [10] nghiên cứu lời chúc mừng sinh nhật của người Iran và người Mĩ trên mạng xã hội Facebook. Ngữ liệu của nghiên cứu được lấy từ 120 lời chúc mừng sinh nhật từ 60 người Iran 60 người Mĩ trên Facebook. Những lời chúc sinh nhật được thu thập trong cả hai bối cảnh giao tiếp chính thức và không chính thức bao gồm các lời chúc từ bạn bè, người quen, thành viên gia đình và đồng nghiệp. Dựa trên ngữ liệu thu được các tác giả đã phân chia thành 7 chiến lược chúc mừng được sử dụng trong giao tiếp.
Kết quả cho thấy, người Iran và người Mĩ có sự khác biệt ở 5/7 chiến lược chúc mừng. Người Iran thường thể hiện lời chúc sinh nhật bằng chiến lược “Endearments” (biểu lộ lòng yêu mến). Trong một số trường hợp để lời chúc trở nên tinh tế hơn, họ sử dụng chiến lược “trích dẫn các tác phẩm văn, thơ”. Người Mĩ không sử dụng chiến lược “biểu lộ lòng yêu mến” nhiều như người Iran.
Họ sử dụng chiến lược “khen ngợi” để chúc mừng nhiều hơn so với người Iran. Cũng với cách thức tương tự các tác giả Najmeh Nasri, Hossein Vahid Dastjerdy, Momeneh Ghadiri trong công trình [11] đã so sánh lời chúc giữa những người nói tiếng Anh, tiếng Iran và tiếng Ả rập. Wierzbicka cho rằng: Mọi nền văn hóa đều thể hiện đặc trưng qua các hành vi nói và đặc điểm lời nói [12]. Có thể thấy các nghiên cứu về chúc theo hướng giao văn hóa đều chỉ ra các tác động của văn hóa đến hành vi chúc.
Qua hành vi chúc các đặc điểm về tâm lí, văn hóa dân tộc được thể hiện tương đối rõ nét.