Luận văn thạc sĩ hay đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân lao đa kháng thuốc tại bệnh viện lao và bệnh phổi thái nguyên

Luận văn thạc sĩ y tế phân tích hay đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân lao đa kháng thuốc tại bệnh, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ y học

2018

94
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Dịch tễ học bệnh lao

1.2. Tình hình lao kháng thuốc hiện nay

1.3. Bệnh học lao đa kháng thuốc

1.4. Định nghĩa lao kháng thuốc

1.5. Vấn đề kháng thuốc của vi khuẩn Lao

1.6. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của lao phổi MDR

1.7. Các thuốc chống lao

1.8. Chỉ định và phác đồ điều trị lao đa kháng

1.9. Bệnh lao đa kháng và các yếu tố nguy cơ

1.10. Một số nghiên cứu về lao đa kháng thuốc

1.10.1. Trên Thế giới

1.10.2. Tại Việt Nam

1.10.3. Tại Thái Nguyên

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu

2.7. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.8. Định nghĩa các biến số, chỉ số nghiên cứu

2.9. Phương pháp thu thập số liệu

2.10. Xử lý số liệu

2.11. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thông tin chung của bệnh nhân lao đa kháng thuốc

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân lao đa kháng thuốc

3.3. Triệu chứng lâm sàng

3.4. Triệu chứng cận lâm sàng

3.5. Một số yếu tố nguy cơ mắc lao đa kháng thuốc

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thông tin chung của bệnh nhân lao đa kháng thuốc

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân lao đa kháng thuốc

4.3. Lý do vào viện của bệnh nhân lao đa kháng thuốc

4.4. Đặc điểm tiền sử bệnh lao và bệnh phối hợp khác

4.5. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.6. Đặc điểm cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.7. Một số yếu tố nguy cơ mắc lao đa kháng

4.8. Những hạn chế trong nghiên cứu

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm lâm sàng bệnh lao đa kháng thuốc tại Thái Nguyên

Bệnh lao đa kháng thuốc (MDR-TB) đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng tại Thái Nguyên. Tình hình dịch tễ học cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc lao đa kháng thuốc ngày càng gia tăng. Theo báo cáo từ Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên, số lượng bệnh nhân MDR-TB được phát hiện hàng năm dao động từ 20 đến 30 ca. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm lâm sàng và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh nhân lao đa kháng thuốc.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân lao đa kháng thuốc

Bệnh nhân lao đa kháng thuốc thường có triệu chứng lâm sàng phức tạp. Các triệu chứng phổ biến bao gồm ho kéo dài, sốt, và giảm cân. Nghiên cứu cho thấy rằng triệu chứng lâm sàng có thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh và thời gian mắc bệnh.

1.2. Tình hình bệnh lao tại Thái Nguyên

Tình hình bệnh lao tại Thái Nguyên đang có diễn biến phức tạp. Tỷ lệ bệnh nhân lao đa kháng thuốc chiếm một phần lớn trong tổng số bệnh nhân lao. Việc phát hiện và điều trị kịp thời là rất quan trọng để ngăn chặn sự lây lan của bệnh.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị lao đa kháng thuốc

Điều trị lao đa kháng thuốc gặp nhiều khó khăn do thời gian điều trị kéo dài và chi phí cao. Bệnh nhân thường phải sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau, dẫn đến nguy cơ gặp phải các phản ứng có hại. Việc quản lý bệnh nhân lao đa kháng thuốc đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên gia y tế.

2.1. Khó khăn trong việc chẩn đoán và điều trị

Chẩn đoán lao đa kháng thuốc thường gặp khó khăn do triệu chứng không điển hình. Nhiều bệnh nhân không được phát hiện kịp thời, dẫn đến tình trạng bệnh nặng hơn khi đến bệnh viện.

2.2. Chi phí điều trị cao và tác động đến bệnh nhân

Chi phí điều trị lao đa kháng thuốc cao gấp nhiều lần so với điều trị lao thông thường. Điều này gây áp lực lớn lên bệnh nhân và gia đình, đặc biệt là những người có thu nhập thấp.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng bệnh nhân lao đa kháng thuốc

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng và xác định các yếu tố nguy cơ. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn bệnh nhân.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang với cỡ mẫu khoảng 100 bệnh nhân. Dữ liệu được thu thập từ các bệnh nhân được chẩn đoán lao đa kháng thuốc trong thời gian nghiên cứu.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và hồ sơ bệnh án. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm thống kê để xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh.

IV. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân lao đa kháng thuốc có nhiều đặc điểm lâm sàng khác nhau. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi tác, giới tính, và tiền sử mắc bệnh lao trước đó. Những phát hiện này có thể giúp cải thiện công tác điều trị và phòng ngừa bệnh.

4.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân

Bệnh nhân lao đa kháng thuốc thường có triệu chứng như ho kéo dài, sốt, và mệt mỏi. Những triệu chứng này có thể kéo dài và gây khó khăn trong việc điều trị.

4.2. Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh nhân

Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như tuổi tác, giới tính, và tình trạng kinh tế xã hội có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ mắc lao đa kháng thuốc. Việc nhận diện sớm các yếu tố này có thể giúp cải thiện kết quả điều trị.

V. Kết luận và hướng phát triển trong nghiên cứu lao đa kháng thuốc

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu tỷ lệ mắc lao đa kháng thuốc. Hướng phát triển trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện hệ thống y tế.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức về bệnh lao và lao đa kháng thuốc là rất cần thiết. Cộng đồng cần được giáo dục về các triệu chứng và cách phòng ngừa bệnh.

5.2. Đề xuất các biện pháp can thiệp

Cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả để giảm thiểu tỷ lệ mắc lao đa kháng thuốc. Điều này bao gồm việc cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và tăng cường giám sát bệnh nhân.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân lao đa kháng thuốc tại bệnh viện lao và bệnh phổi thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Dịch tễ học bệnh lao 1. Trên thế giới Bệnh lao là một vấn đề lớn của sức khỏe toàn cầu. Trong năm 2008, có khoảng 8,9 - 9,9 triệu ca mắc lao, 1,1 - 1,7 triệu người chết vì bệnh lao trong nhóm người có HIV dương tính [61].

Bệnh nhân lao có ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới nhưng phần lớn các trường hợp là ở châu Á (55,0%) và châu Phi (30,0%). Theo ước tính của TCYTTG năm 2011 có khoảng 8,7 triệu người mắc lao mới trong đó có 13,0% có bệnh đồng mắc HIV, 1,4 triệu người đã chết vì căn bệnh này trong đó có 430 ngàn người nhiễm HIV. Bệnh lao cũng nằm trong nhóm những nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở phụ nữ với con số 500 ngàn người trong đó gần 200 ngàn người có nhiễm HIV. Theo công bố của TCYTTG năm 2012 về tình hình dịch tễ của bệnh lao, thế giới nói chung đã có nhiều tiến bộ về công tác chăm sóc, điều trị và quản lý bệnh nhân mắc lao ở nhiều vùng, nhiều quốc gia và trên toàn thế giới.

Tỷ lệ mắc lao mới đã giảm 2,2% trong vòng 1 năm từ 2010 đến 2011. Tỷ lệ điều trị thành công trên toàn thế giới luôn giữ vững ở mức cao. Năm 2010, tỷ lệ điều trị thành công là 85,0% đối với các trường hợp lao đã được chẩn đoán và 87,0% đối với lao phổi AFB dương tính. Sự phân bố bệnh lao trên thế giới tồn tại một sự chênh lệch quá lớn giữa các vùng địa lý và tạo ra 2 nhóm các nước khác nhau.

Ở các nước phát triển, bệnh lao được coi như không còn tồn tại, còn các nước đang phát triển thì vẫn đang đánh vật với căn bệnh này [62]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Năm 2016, có khoảng 1,3 triệu người chết vì bệnh lao có HIV âm tính.000 người chết vì bệnh lao dương tính [65]. Các chuyên gia y tế thế giới kêu gọi TCYTTG cũng như các quốc gia mở rộng khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các loại thuốc điều trị lao mới đang trong giai đoạn thử nghiệm để cứu sống các bệnh nhân lao nhiễm các chủng đã hoàn toàn kháng tất cả các loại thuốc đồng thời kêu gọi việc ngăn chặn các khả năng sử dụng sai có thể sớm làm mất hiệu lực điều trị của các loại thuốc này. Ở Việt Nam Năm 2006, tỷ lệ mới mắc các thể là 173/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc các thể là 225/100.000 dân, tỷ lệ mắc AFB (+) là 145/100.

Tỷ lệ tử vong do lao là 23/100. Theo báo cáo của TCYTTG năm 2012, Việt Nam đứng thứ 12 trong số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới. Trong khu vực Tây Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philipin về số lượng bệnh nhân lao lưu hành cũng như số lượng bệnh nhân lao mới mắc hàng năm. Ở Việt Nam, việc chẩn đoán và điều trị bệnh lao còn gặp nhiều khó khăn do trình độ dân trí thấp, do việc phát hiện vi khuẩn vẫn hầu hết dựa vào xét nghiệm tìm vi khuẩn trực tiếp mà tỷ lệ phát hiện chỉ đạt 44% số bệnh nhân ước tính [63].

Trong những năm qua đươc sự quan tâm của Chính phủ và Bộ Y tế, sự nỗ lực của Chương trình chống lao Quốc gia, sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, bệnh lao ở nước ta đã giảm nhiều nhưng vẫn đang còn ở mức cao. Ước tính hàng năm vẫn có tới 130.000 người mới mắc lao, 170.000 người mới mắc lao lưu hành và 17.000 người tử vong do lao. Chiến lược quốc gia phòng chống lao đến 2020 và tầm nhìn đến 2030 là dấu mốc rất quan trọng với những giải pháp mang tính hệ thống toàn diện và có tính đột phá nhằm đạt được mục tiêu rất nhân văn nhưng cũng đầy tham vọng đó là sau 5 năm 2015 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 -2020 giảm 30,0% số mắc và giảm 40,0% số chết do lao, hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ mắc lao xuống dưới 20 người trên 100. Về hệ thống chương trình phòng chống lao, ở nước ta có 4 tuyến từ cấp trung ương đến tuyến xã.

Càng xuống tuyến cơ sở, chương trình càng được lồng ghép vào hệ thống y tế chung và hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể được tiếp cận với chương trình phòng chống lao chất lượng cao. Tại các tuyến, có sự lồng ghép với các hệ thống y tế tư nhân, y tế nhà nước, các tổ chức xã hội, các đối tác cùng tham gia phòng chống bệnh lao. Từ năm 1997, Việt Nam đã đạt chỉ tiêu của TCYTTG về tỷ lệ phát hiện bệnh (>70,0%), tỷ lệ điều trị khỏi (>85,0%), và điều trị thành công (gần 93,0%) trong nhiều năm, đạt mức độ bao phủ 100% vào năm 2000 [4]. Tuy nhiên chương trình còn gặp phải rất nhiều khó khăn, những khó khăn về kinh phí do các nguồn tài trợ quốc tế ngày càng giảm, sự gia tăng các chủng kháng đa thuốc và đại dịch HIV và trên hết là khó khăn về sự thiếu nhân lực ở các cấp cơ sở, giảm thiểu chất lượng ở vùng sâu vùng xa, thiếu kinh nghiệm và tính chuyên khoa ở các cấp cơ sở.

Tình hình lao kháng thuốc hiện nay 1. Trên thế giới Nghiên cứu về tính nhạy cảm của thuốc điều trị MDR - TB được phân tích từ 8902 trường hợp đã điều trị trước đó từ 66 quốc gia. Tỷ lệ trung bình của sự kháng với bất kỳ thuốc nào là 18,6%. Tỷ lệ đa kháng thuốc ở các bệnh nhân lao điều trị lại là 6,9%, với tỷ lệ cao nhất được báo cáo là ở Oman và Kazakhstan [45].

Tỷ lệ lao mới được báo cáo là có đa kháng thuốc trong những năm 2007 - 2010 dao động từ 0,0% đến 28,9%. Tỷ lệ các ca bệnh đã điều trị trước đó có MDR-TB dao động từ 0,0% đến 65,1%. Các quốc gia với tỷ lệ trên 50,0% LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 bao gồm Belarus (60,2%), Lithuania (51,5%), Cộng hòa Moldova (65,1%). Quốc gia lớn nhất tiến hành điều tra toàn quốc trong giai đoạn báo cáo là Trung Quốc, nơi có 5,7% trường hợp lao mới và 25,6% trường hợp được điều trị trước đó có kháng đa kháng [44].

Trong năm 2008, ước tính có khoảng 390.000 trường hợp MDR-TB xuất hiện trên toàn cầu. Trong số tất cả các trường hợp lao nhiễm lao trên toàn cầu là 3,6% được ước tính có MDR-TB. Gần 50% số ca MDR - TB trên toàn thế giới được ước tính xảy ra ở Trung Quốc và Ấn Độ. Trong 2008, MDR - TB gây ra khoảng 150.000 ca tử vong [62].

Theo ước tính của TCYTTG (2012) trên thế giới có khoảng 3,7% các trường hợp mắc lao mới và 20% các trường hợp lao đã được điều trị trước đó có mang chủng lao kháng đa thuốc. Ấn độ, Trung Quốc, Liên bang Nga và Nam Phi chiếm tổng cộng gần 60% các trường hợp lao kháng đa thuốc. Nhưng Châu Phi và Đông Âu lại chiếm tỷ lệ mắc lao kháng đa thuốc cao nhất tính trên tổng số bệnh nhân mắc lao. Năm 2011 đã phát hiện và điều trị được hơn 60.000 ca MDR và hầu hết là ở các nước Châu Âu và Nam Phi.

Số ca MDR được báo cáo ở 27 quốc qia có gánh nặng lao đa kháng đã tăng gấp đôi so với năm 2009 và 2011 [63]. Lao kháng thuốc đặt ra một mối đe dọa lớn đối với việc kiểm soát bệnh lao trên toàn thế giới. Năm 2013, trên toàn cầu có khoảng 480.000 trường hợp mắc lao đa kháng và có tới 210.000 trường hợp tử vong do lao đa kháng. Đến cuối năm 2013, số liệu về kháng thuốc chống lao đã có ở 144 quốc gia, chiếm 95,0% dân số thế giới và các ca bệnh lao ước tính.

Một nửa trong số này (72 quốc gia) có hệ thống giám sát liên tục, trong khi đó nửa còn lại dựa vào các khảo sát đặc biệt. Trong năm 2013, sáu trong số 36 nước có gánh nặng MDR- TB đã hoàn thành cuộc điều tra về kháng thuốc: Azerbaijan, Myanmar, Pakistan, Phi-líp-pin, Thái Lan và Việt Nam. Vào giữa năm 2014, các cuộc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khảo sát đang diễn ra trong 5 năm tiếp theo các quốc gia: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Nam Phi và Ukraina. Trên toàn cầu, ước tính 3,5% các ca bệnh mới và 20,5% các ca bệnh đã điều trị trước đó có MDR - TB.000) ca bệnh mới của MDR - TB trên toàn thế giới, và khoảng 210.000 ca tử vong (từ 130.

Trong số những bệnh nhân lao phổi không được điều trị vào năm 2013, khoảng 300.000) mắc MDR-TB. Hơn một nửa số bệnh nhân này ở Ấn Độ, Trung Quốc và Liên bang Nga. Một phân tích mới về xu hướng tập trung vào các năm 2008 - 2013 cho thấy, ở cấp độ toàn cầu, tỷ lệ các trường hợp mới với MDR - TB vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, MDR - TB vẫn đang rất nghiêm trọng ở một số quốc gia [64].

Ở Việt Nam Theo WHO, Việt Nam nằm trong số 12 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới. Trong khu vực Tây - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ ba sau Trung quốc và Philipinnes về số lượng bệnh nhân lao lưu hành cũng như bệnh nhân lao mới xuất hiện hàng năm [63]. Kết quả điều tra kháng thuốc sau 3 lần cho thấy số bệnh nhân lao mới kháng đa thuốc lần lượt 2,3% (năm 2000), 3,0% (năm 2003) và 2,7% (năm 2005).Tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân lao điều trị lại là 19,0%. Điều tra kháng thuốc lao lần thứ 3, (năm 2004 - 2005), kết quả cho thấy: Tỷ lệ kháng thuốc chung là 30,9%, kháng đa thuốc là 2,7%.

Tỷ lệ kháng isoniazid là 19,2%, kháng Streptomycine là 23,3%. Nhưng riêng ở lô bệnh nhân điều trị lại, tỷ lệ kháng thuốc chung rất cao: 58,9%, kháng đa thuốc là 19,3%, kháng Isoniazid: 43,5%, Streptomycine: 50,7%. Hiện nay chúng ta đang tổ chức điều tra lần 4 [2]. Mặc dù tỷ lệ MDR không tăng đáng kể trong suốt giai đoạn 10 năm (từ 1996 -2005), thậm trí còn giảm rõ rệt trong các trường hợp điều trị lại (từ 32,5% xuống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 còn 19,0%), nhưng nếu không có hành động kịp thời để quản lý số bệnh nhân MDR (ước tính 3.000 bệnh nhân) chắc chắn công tác chống lao sẽ gặp rất nhiều khó khăn [21].

Việt Nam đứng thứ 14 trong 27 nước có tỷ lệ mắc lao kháng thuốc cao nhất thế giới với con số khoảng gần 92 ngàn người và 2,7% những người mới mắc có mang chủng lao kháng đa thuốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân lao đa kháng thuốc tại Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bệnh lao đa kháng thuốc, một vấn đề y tế nghiêm trọng tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các triệu chứng lâm sàng mà còn chỉ ra những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh, từ đó giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quát hơn về cách thức phòng ngừa và điều trị hiệu quả.

Đối với những ai quan tâm đến các vấn đề y tế khác, tài liệu này mở ra cơ hội để tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan. Bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và phát hiện đột biến gen của bệnh mucopolysaccharide ở trẻ em, nơi khám phá các đặc điểm lâm sàng của một bệnh lý khác ở trẻ em. Ngoài ra, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm xoang mạn tính polyp khe giữa bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện tai mũi họng cần thơ năm 2021 2022 cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị hiện đại trong lĩnh vực tai mũi họng. Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề sức khỏe khác nhau.