Đặc điểm khu hệ bò sát lưỡng cư tại xã hương quang vườn quốc gia vũ quang

Tài liệu nghiên cứu Đặc điểm khu hệ bò sát lưỡng cư tại xã hương quang vườn quốc gia vũ quang, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu về bò sát và lƣỡng cƣ ở Việt Nam

1.2. Đặc điểm các nhóm sinh thái của lƣỡng cƣ , bò sát

1.2.1. Đặc điểm sinh thái của lưỡng cư theo nơi ở

1.2.2. Đặc điểm sinh thái của bò sát theo nơi ở

1.3. Một số nghiên cứu về giá trị và các mối đe dọa đến bò sát, lƣỡng cƣ

1.4. Lược sử nghiên cứu bò sát, lưỡng cư ở Vườn Quốc gia Vũ Quang

2. Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý và ranh giới

2.1.2. Địa chất, đất đai

2.1.3. Khí hậu thủy văn

2.2. Điều kiện kinh tế xã hội

2.2.1. Dân số và lao động

2.2.2. Các hoạt động sản xuất chủ yếu

2.3. Nhận xét về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cho sự cƣ trú các loài bò sát và hoạt động quản lý, bảo tồn tài nguyên rừng

3. Chương 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI

4. Chương 4: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Mục tiêu nghiên cứu

4.1.1. Mục tiêu chung

4.1.2. Mục tiêu cụ thể

4.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.2.1. Đối tượng nghiên cứu

4.2.2. Phạm vi nghiên cứu

4.3. Nội dung nghiên cứu

4.4. Phƣơng pháp nghiên cứu

4.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

4.4.2. Phương pháp phỏng vấn

4.4.3. Điều tra theo tuyến

4.4.4. Phương pháp xử lý số liệu

5. Chương 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5.1. Thành phần các loài bò sát và lƣỡng cƣ tại xã Hƣơng Quang, Vƣờn Quốc gia Vũ Quang

5.1.1. Thành phần loài

5.1.2. Nguồn thông tin ghi nhận tại khu vực nghiên cứu

5.1.3. Tính đa dạng về phân loại học

5.2. Phân bố bò sát, lƣỡng cƣ theo sinh cảnh

5.2.1. Mô tả sinh cảnh

5.2.2. Phân bố bò sát, lưỡng cư theo sinh cảnh

5.3. Giá trị tài nguyên và các mối đe dọa đến các loài bò sát, lƣỡng cƣ tại khu vực nghiên cứu

5.3.1. Giá trị tài nguyên của các loài bò sát, lưỡng cư

5.3.2. Xác định các mối đe dọa tới bò sát, lưỡng cư tại khu vực

5.4. Các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài bò sát, lƣỡng cƣ tại xã Hƣơng Quang, VQG Vũ Quang

5.4.1. Nhóm giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng của các mối đe dọa tới khu hệ

5.4.2. Giải pháp quản lý bảo tồn phát triển bền vững

KẾT LUÂN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan khu hệ bò sát lưỡng cư VQG Vũ Quang Kho báu ẩn

Vườn Quốc gia Vũ Quang, nằm trong vùng sinh thái Dãy Trường Sơn, là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng bậc nhất Việt Nam. Nơi đây sở hữu hệ sinh thái rừng Vũ Quang phong phú, là ngôi nhà chung của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Trong đó, khu hệ bò sát lưỡng cư tại xã Hương Quang Vườn quốc gia Vũ Quang nổi bật với sự đa dạng cao nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá đầy đủ. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy khu vực này có tiềm năng lớn về giá trị khoa học và bảo tồn, đặc biệt đối với các loài bò sát và lưỡng cư, nhóm động vật vốn rất nhạy cảm với thay đổi môi trường. Việc tìm hiểu đặc điểm, thành phần loài và sự phân bố của chúng không chỉ là một nghiên cứu khoa học tại Vũ Quang mà còn là cơ sở vững chắc để xây dựng các chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả, góp phần gìn giữ di sản thiên nhiên quý giá này cho các thế hệ tương lai. Nghiên cứu của Lê Ngọc Hà (2018) đã cung cấp những dữ liệu nền tảng quan trọng, mở ra một cái nhìn chi tiết hơn về quần thể lưỡng cư và bò sát tại xã Hương Quang, một khu vực trọng điểm của Vườn Quốc gia.

1.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu đa dạng sinh học bò sát lưỡng cư

Bò sát và lưỡng cư đóng vai trò không thể thiếu trong cấu trúc quần xã động vật và mạng lưới thức ăn của hệ sinh thái. Chúng vừa là loài săn mồi, giúp kiểm soát quần thể côn trùng và các động vật nhỏ gây hại, vừa là nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật lớn hơn. Do đó, sự suy giảm số lượng của chúng có thể gây ra những xáo trộn nghiêm trọng cho cân bằng sinh thái. Việc nghiên cứu đa dạng sinh học bò sát lưỡng cư cung cấp các chỉ số quan trọng để đánh giá sức khỏe của môi trường. Sự hiện diện của các loài nhạy cảm cho thấy một hệ sinh thái còn tương đối nguyên vẹn. Ngược lại, sự biến mất của chúng là lời cảnh báo sớm về tình trạng suy thoái môi trường. Hơn nữa, nhiều loài trong nhóm này có giá trị kinh tế và y học, nhưng cũng chính vì vậy mà chúng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao. Do đó, việc xây dựng một danh lục các loài bò sát ở Vũ Quangdanh sách các loài lưỡng cư VQG Vũ Quang là bước đi đầu tiên và cấp thiết để nhận diện các loài cần ưu tiên bảo tồn.

1.2. Điều kiện tự nhiên xã Hương Quang Nền tảng cho sự sống

Xã Hương Quang nằm trong vùng lõi của Vườn Quốc gia Vũ Quang, sở hữu điều kiện tự nhiên lý tưởng cho sự phát triển của khu hệ động vật VQG Vũ Quang. Địa hình khu vực chủ yếu là núi cao, vực sâu, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối dày đặc như Ngàn Trươi, Rào Nổ, tạo nên nhiều tiểu vùng khí hậu và sinh cảnh đa dạng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lượng mưa lớn và độ ẩm cao quanh năm, là môi trường sống hoàn hảo cho các loài lưỡng cư vốn phụ thuộc nhiều vào nước. Thảm thực vật rừng tự nhiên còn khá nguyên vẹn, với tán lá rậm rạp và thảm mục dày, cung cấp nơi trú ẩn và nguồn thức ăn dồi dào cho cả bò sát và lưỡng cư. Sự đa dạng về địa hình và thảm thực vật đã hình thành nên nhiều loại sinh cảnh sống của bò sát lưỡng cư, từ rừng rậm trên núi cao đến các vùng ven suối ẩm ướt, tạo điều kiện cho sự cùng tồn tại của nhiều loài với các đặc tính sinh thái khác nhau.

II. Các mối đe dọa đến bò sát lưỡng cư VQG Vũ Quang là gì

Mặc dù là một khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt, herpetofauna Vườn quốc gia Vũ Quang vẫn phải đối mặt với nhiều mối đe dọa nghiêm trọng. Áp lực từ các hoạt động kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư vùng đệm là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm quần thể nhiều loài. Tình trạng săn bắt trái phép và sự suy thoái môi trường sống là hai thách thức lớn nhất đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại đây. Theo tài liệu Sách đỏ Việt Nam (2007), đã có 40 loài bò sát và 14 loài lưỡng cư trên cả nước bị đe dọa. Tại xã Hương Quang, tình hình cũng không ngoại lệ. Việc khai thác quá mức không chỉ nhắm vào các loài có giá trị kinh tế cao mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ các loài trong hệ sinh thái, bao gồm cả nòng nọc và các loài ếch nhái nhỏ. Nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả, sự đa dạng của lưỡng cư và bò sát xã Hương Quang sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí một số loài có thể biến mất vĩnh viễn khỏi khu vực này trong tương lai không xa.

2.1. Tác động từ săn bắt và khai thác tài nguyên rừng quá mức

Do đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, một bộ phận người dân địa phương vẫn còn tham gia vào các hoạt động khai thác tài nguyên rừng trái phép, trong đó có săn bắt động vật hoang dã. Các loài bò sát như rùa, trăn, rắn và ba ba thường là mục tiêu chính do có giá trị cao trên thị trường, được sử dụng làm thực phẩm đặc sản hoặc dược liệu. Hình thức săn bắt chủ yếu là sử dụng bẫy, gây ảnh hưởng không chọn lọc đến nhiều loài. Tình trạng này đã làm suy giảm đáng kể số lượng cá thể của các loài quý hiếm Sách Đỏ Việt Nam như Rùa núi vàng, Rùa đầu to. Thậm chí, việc khai thác tận thu cả những loài nhỏ như ếch, nhái để phục vụ nhu cầu thực phẩm cũng đang diễn ra, gây áp lực lên toàn bộ quần xã và phá vỡ chuỗi thức ăn tự nhiên. Đây là mối đe dọa trực tiếp và cấp bách nhất cần được giải quyết để bảo vệ thành phần loài bò sát lưỡng cư Hà Tĩnh tại Vũ Quang.

2.2. Suy thoái sinh cảnh sống của bò sát lưỡng cư và hậu quả

Bên cạnh săn bắt, sự suy thoái và phân mảnh môi trường sống cũng là một mối đe dọa lớn. Các hoạt động như khai thác gỗ, làm nương rẫy ở khu vực vùng đệm, mặc dù đã giảm, vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng sinh cảnh sống của bò sát lưỡng cư. Việc thay đổi cấu trúc thảm thực vật, làm giảm độ che phủ của tán rừng, và gây ô nhiễm nguồn nước có thể phá hủy nơi ở và nơi sinh sản của nhiều loài, đặc biệt là các loài lưỡng cư. Mùa mưa lũ, sạt lở đất cũng tác động tiêu cực đến môi trường sống tự nhiên. Khi sinh cảnh bị thu hẹp và chia cắt, quần thể các loài sẽ bị cô lập, làm giảm khả năng tìm kiếm thức ăn, bạn tình và tăng nguy cơ giao phối cận huyết, dẫn đến suy thoái di truyền. Hậu quả lâu dài là sự suy giảm về số lượng và sự đa dạng của khu hệ động vật VQG Vũ Quang.

III. Phương pháp nghiên cứu khoa học khu hệ động vật VQG Vũ Quang

Để có được một bức tranh toàn diện về đặc điểm khu hệ bò sát lưỡng cư tại xã Hương Quang Vườn quốc gia Vũ Quang, việc áp dụng một phương pháp nghiên cứu khoa học bài bản và đa dạng là vô cùng cần thiết. Nghiên cứu của Lê Ngọc Hà (2018) đã kết hợp nhiều phương pháp truyền thống nhưng hiệu quả để thu thập dữ liệu một cách tối ưu trong điều kiện thực địa phức tạp. Cách tiếp cận này bao gồm việc tổng hợp các tài liệu đã có, tiến hành phỏng vấn sâu rộng với người dân và cán bộ kiểm lâm, và quan trọng nhất là tổ chức các đợt điều tra thực địa theo tuyến. Sự kết hợp này không chỉ giúp xây dựng một danh sách các loài tương đối đầy đủ mà còn cung cấp thông tin quý giá về đặc điểm phân bố loài, sinh cảnh ưa thích và các mối đe dọa hiện hữu. Đây là một mô hình nghiên cứu khoa học tại Vũ Quang điển hình, làm cơ sở cho các hoạt động giám sát và quản lý đa dạng sinh học sau này tại khu dự trữ sinh quyển Vũ Quang.

3.1. Kế thừa tài liệu và phỏng vấn cộng đồng địa phương

Phương pháp kế thừa tài liệu đóng vai trò nền tảng, giúp tổng hợp các công trình nghiên cứu đã được công bố trước đây về herpetofauna Vườn quốc gia Vũ Quang. Các tài liệu quan trọng như của Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (2009) được sử dụng để đối chiếu và cập nhật hệ thống phân loại. Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn được thực hiện với 30 người dân địa phương và các cán bộ Vườn quốc gia. Việc phỏng vấn giúp thu thập thông tin sơ bộ về sự hiện diện của các loài, tên gọi địa phương, khu vực thường bắt gặp và mức độ khai thác. Mặc dù thông tin từ phỏng vấn cần được kiểm chứng, nó cung cấp những định hướng quan trọng cho việc thiết kế các tuyến điều tra thực địa, giúp khoanh vùng các khu vực có tiềm năng đa dạng sinh học cao, tiết kiệm thời gian và công sức.

3.2. Điều tra thực địa theo tuyến Ghi nhận trực tiếp các loài

Điều tra theo tuyến là phương pháp cốt lõi để ghi nhận trực tiếp sự có mặt và hoạt động của các loài ngoài tự nhiên. Dựa trên kết quả phỏng vấn và bản đồ thảm thực vật, 5 tuyến điều tra với tổng chiều dài khoảng 4-6km mỗi tuyến đã được thiết lập, bao phủ các dạng sinh cảnh chính trong khu vực. Các cuộc khảo sát được tiến hành cả ban ngày (8-16h) và ban đêm (18-21h) để tối đa hóa khả năng bắt gặp các loài có tập tính hoạt động khác nhau. Trong quá trình di chuyển, các nhà nghiên cứu quan sát, lắng nghe và ghi nhận tất cả các cá thể bò sát, lưỡng cư gặp được. Thông tin về loài, số lượng, tọa độ GPS, thời gian và đặc điểm sinh cảnh đều được ghi chép cẩn thận. Phương pháp này cung cấp dữ liệu định lượng và định tính tin cậy về thành phần loài bò sát lưỡng cư Hà Tĩnh và sự phân bố của chúng.

IV. Bật mí thành phần loài bò sát lưỡng cư xã Hương Quang Hà Tĩnh

Kết quả nghiên cứu đã mang lại một cái nhìn ấn tượng về sự giàu có của đa dạng sinh học bò sát lưỡng cư tại xã Hương Quang. Tổng hợp từ các nguồn dữ liệu, nghiên cứu đã ghi nhận được 65 loài, thuộc 15 họ và 3 bộ. Đây là một con số đáng kể, khẳng định vị thế của Vườn Quốc gia Vũ Quang là một điểm nóng về đa dạng sinh học. Trong đó, lớp Bò sát (Reptilia) có 32 loài thuộc 9 họ và 2 bộ; lớp Lưỡng cư (Amphibia) có 33 loài thuộc 6 họ và 1 bộ. Đáng chú ý, số lượng loài lưỡng cư gần như tương đương với số lượng loài bò sát, một điều khá đặc biệt so với tỷ lệ chung của cả nước, cho thấy điều kiện môi trường tại đây đặc biệt thuận lợi cho nhóm lưỡng cư. Những phát hiện này không chỉ bổ sung dữ liệu quan trọng vào danh lục các loài bò sát ở Vũ Quang mà còn góp phần hoàn thiện bức tranh tổng thể về khu hệ động vật VQG Vũ Quang.

4.1. Danh lục các loài bò sát ở Vũ Quang Đa dạng về họ và bộ

Trong số 32 loài bò sát được ghi nhận, họ Rắn nước (Colubridae) thể hiện sự đa dạng vượt trội với 9 loài, chiếm 28,12% tổng số loài bò sát. Điều này phản ánh sự phong phú của các môi trường sống thủy vực và ven bờ tại khu vực. Tiếp theo là họ Thằn lằn bóng (Scincidae) và họ Rùa thường (Geoemmydidae), mỗi họ có 6 loài. Sự đa dạng của họ Rùa thường đặc biệt có ý nghĩa về mặt bảo tồn, vì nhiều loài trong họ này đang bị đe dọa ở cấp độ cao. Ngược lại, một số họ chỉ ghi nhận được một loài duy nhất như họ Rùa đầu to (Platysternidae), họ Tắc kè (Gekkonidae) và họ Rắn lục (Viperidae). Các loài tiêu biểu được ghi nhận bao gồm Rồng đất (Physignathus cocincinus), Rắn roi thường (Ahaetulla prasina), và các loài rùa quý hiếm.

4.2. Danh sách các loài lưỡng cư VQG Vũ Quang và tính đa dạng

Với 33 loài được xác định, lớp Lưỡng cư tại xã Hương Quang cho thấy sự đa dạng không hề kém cạnh. Họ Ếch nhái (Ranidae) là họ đa dạng nhất với 9 loài (chiếm 27,27% tổng số loài lưỡng cư), tiếp theo là họ Ếch cây (Rhacophoridae) với 8 loài. Sự phong phú của hai họ này cho thấy sự đa dạng của các môi trường sống, từ các dòng suối trong rừng sâu đến thảm thực vật trên cây cao. Các loài phổ biến và dễ bắt gặp trong quá trình khảo sát bao gồm Cóc nhà (Duttaphrynus melanostictus), Ngoé (Fejervaria limnocharis), và Chẫu (Hylarana guentheri). Việc xây dựng danh sách các loài lưỡng cư VQG Vũ Quang một cách chi tiết là tiền đề quan trọng cho các chương trình giám sát biến đổi khí hậu, bởi lưỡng cư là nhóm chỉ thị sinh học cực kỳ nhạy bén.

V. Phân tích đặc điểm phân bố bò sát lưỡng cư theo sinh cảnh

Sự phân bố của các loài lưỡng cư và bò sát xã Hương Quang không đồng đều mà phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của từng loại sinh cảnh. Nghiên cứu đã xác định và phân tích sự hiện diện của các loài trong 4 dạng sinh cảnh chính: rừng tự nhiên; ven hồ, khe suối; rừng tre nứa; và cây bụi, trảng cỏ. Mỗi sinh cảnh có cấu trúc thảm thực vật, độ ẩm, nhiệt độ và nguồn thức ăn riêng biệt, từ đó tạo nên các tổ hợp loài đặc trưng. Việc tìm hiểu đặc điểm phân bố loài theo sinh cảnh giúp xác định các khu vực ưu tiên cho công tác bảo tồn. Bằng cách bảo vệ các sinh cảnh quan trọng, đặc biệt là những nơi có độ đa dạng loài cao nhất, chúng ta có thể bảo vệ hiệu quả một phần lớn khu hệ bò sát lưỡng cư tại xã Hương Quang Vườn quốc gia Vũ Quang. Kết quả cho thấy, môi trường sống càng ít bị tác động và có cấu trúc phức tạp thì càng hỗ trợ một quần xã đa dạng hơn.

5.1. Sinh cảnh rừng tự nhiên Nơi trú ẩn lý tưởng của nhiều loài

Sinh cảnh rừng tự nhiên (SC1) được xác định là nơi có sự đa dạng loài cao nhất, với 23 loài được ghi nhận trong quá trình điều tra thực địa. Đây là sinh cảnh chiếm diện tích lớn, ít bị tác động bởi con người, có tán rừng rậm rạp, thảm mục dày và độ ẩm cao. Những điều kiện này tạo ra một môi trường sống ổn định và lý tưởng, cung cấp vô số nơi ẩn náu và nguồn thức ăn phong phú (côn trùng, giun, động vật nhỏ). Do đó, đây là sinh cảnh sống của bò sát lưỡng cư quan trọng nhất. Hầu hết các loài bò sát và lưỡng cư trong khu vực đều được tìm thấy ở đây, từ những loài sống trên mặt đất như Ếch nhẽo (Limnonectes kuhlii) đến các loài sống trên cây như Rắn roi thường (Ahaetulla prasina). Việc bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng tự nhiên là chìa khóa để bảo tồn herpetofauna Vườn quốc gia Vũ Quang.

5.2. Vai trò của sinh cảnh ven suối rừng tre nứa và trảng cỏ

Sinh cảnh ven hồ, khe suối (SC2) cũng có độ đa dạng cao với 20 loài. Môi trường ẩm ướt và nguồn nước thường xuyên là điều kiện bắt buộc cho vòng đời của hầu hết các loài lưỡng cư. Sinh cảnh rừng tre nứa (SC3) ghi nhận được 14 loài. Mặc dù nghèo hơn về thành phần thực vật, tầng thảm mục dày của rừng tre nứa vẫn là nơi trú ẩn tốt cho nhiều loài. Cuối cùng, sinh cảnh cây bụi, trảng cỏ (SC4) có độ đa dạng thấp nhất với chỉ 7 loài do điều kiện khô hơn và nhiệt độ cao hơn. Một số loài có khả năng thích nghi rộng như Ngoé và Chẫu có thể được tìm thấy ở nhiều loại sinh cảnh, trong khi các loài chuyên hóa như Ếch suối chỉ xuất hiện ở những nơi đặc thù. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì một bức tranh khảm đa dạng các loại sinh cảnh.

5.3. Giá trị tài nguyên và các loài quý hiếm Sách Đỏ Việt Nam

Khu hệ bò sát lưỡng cư tại Hương Quang không chỉ có giá trị về mặt sinh thái mà còn có giá trị bảo tồn cao. Nghiên cứu đã xác định được nhiều loài nằm trong danh mục bị đe dọa của Sách Đỏ Việt Nam (2007), IUCN và các nghị định của Chính phủ. Trong đó, các loài cần được ưu tiên bảo tồn hàng đầu bao gồm Rùa núi vàng (Indotestudo elongata), Rùa đầu to (Platysternon megacephalum), và Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons). Đây đều là các loài quý hiếm Sách Đỏ Việt Nam, đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao do săn bắt và buôn bán trái phép. Sự hiện diện của chúng tại Vườn Quốc gia Vũ Quang khẳng định tầm quan trọng toàn cầu của khu vực này trong nỗ lực bảo tồn các loài rùa cạn và rùa nước ngọt của châu Á. Việc bảo vệ thành công các loài này sẽ là một thành tựu lớn trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam.

VI. Giải pháp cấp bách bảo tồn đa dạng sinh học bò sát lưỡng cư

Từ những kết quả phân tích về thành phần loài, sự phân bố và các mối đe dọa, việc đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn phù hợp là bước đi tất yếu và cấp bách. Để bảo vệ hiệu quả đặc điểm khu hệ bò sát lưỡng cư tại xã Hương Quang Vườn quốc gia Vũ Quang, cần một chiến lược tổng thể, kết hợp giữa việc giảm thiểu các tác động tiêu cực và tăng cường các hoạt động quản lý, bảo vệ bền vững. Các giải pháp phải được xây dựng dựa trên điều kiện thực tiễn của địa phương, có sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là bảo vệ các loài hiện có mà còn là phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái, đảm bảo sự phát triển ổn định và lâu dài cho toàn bộ khu hệ động vật VQG Vũ Quang. Các đề xuất trong nghiên cứu của Lê Ngọc Hà (2018) đã vạch ra hai nhóm giải pháp chính, tập trung vào việc giải quyết gốc rễ của vấn đề.

6.1. Hạn chế các mối đe dọa và quản lý bảo vệ rừng bền vững

Nhóm giải pháp đầu tiên tập trung vào việc giảm thiểu trực tiếp các mối đe dọa. Cần tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát của lực lượng kiểm lâm để ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi săn bắt, buôn bán động vật hoang dã trái phép. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng địa phương về tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học và các quy định pháp luật. Việc hỗ trợ người dân phát triển các mô hình sinh kế bền vững, giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng, là một giải pháp căn cơ và lâu dài. Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ các hoạt động trong vùng đệm để hạn chế suy thoái môi trường sống, duy trì và phục hồi chất lượng hệ sinh thái rừng Vũ Quang.

6.2. Hướng nghiên cứu tương lai cho khu hệ động vật VQG Vũ Quang

Nghiên cứu hiện tại chỉ là bước khởi đầu. Để công tác bảo tồn thực sự hiệu quả, cần có các nghiên cứu chuyên sâu và kéo dài hơn trong tương lai. Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ Vườn Quốc gia, tiến hành điều tra trong nhiều mùa khác nhau trong năm để có được danh sách loài đầy đủ hơn. Cần tập trung nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh học, sinh thái và tình trạng quần thể của các loài quý hiếm Sách Đỏ Việt Nam như các loài rùa để xây dựng các kế hoạch bảo tồn riêng cho từng loài. Việc ứng dụng các phương pháp hiện đại như bẫy ảnh, phân tích DNA môi trường (eDNA) sẽ giúp phát hiện các loài bí ẩn và khó quan sát. Những dữ liệu từ các nghiên cứu khoa học tại Vũ Quang trong tương lai sẽ là nền tảng không thể thiếu để liên tục cập nhật và điều chỉnh các chiến lược bảo tồn một cách hiệu quả nhất.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý trải dài trên nhiều vĩ tuyến, có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mƣa nhiều; địa hình chủ yếu là đồi núi chiếm ¾ diện tích của cả nƣớc, hệ thống sông ngòi dày đặc tạo nên tính đa dạng sinh học cao cả về thực vật, động vật trong đó có khu hệ bò sát, lƣỡng cƣ. Theo tài liệu của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (2009) có 176 loài lƣỡng cƣ thuộc 10 họ, 3 bộ và 357 loài bò sát thuộc 24 họ, 3 bộ đã đƣợc ghi nhận ở Việt Nam. Các loài bò sát, lƣỡng cƣ phân bố khắp các vùng trong cả nƣớc từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Từ năm 2009 đến nay, các nghiên cứu về bò sát, lƣỡng cƣ ngày càng đƣợc quan tâm; số lƣợng các loài bò sát, lƣỡng cƣ mới đƣợc phát hiện ngày càng tăng lên.

Sinh cảnh sống của các loài bò sát, lƣỡng cƣ rất đa dạng. Sự tiến hóa về cơ thể sống giúp các loài bò sát, lƣỡng cƣ có thể sống đƣợc trong nhiều môi trƣờng khác nhau nhƣ: trên cây, sống trong các tầng cây bụi, dƣới nƣớc, trên mặt đất và dƣới mặt đất. Các loài lƣỡng cƣ là động vật có xƣơng sống đầu tiên sống trên cạn nhƣng vẫn còn mang nhiều đặc điểm của môi trƣờng sống dƣới nƣớc, chẳng hạn nhƣ: giai đoạn trứng và nòng nọc sống dƣới nƣớc trải qua quá trình biến thái thành con non và con trƣởng thành sống ở trên cạn. Các loài bò sát do có cấu tạo cơ thể tiến hóa hơn lƣỡng cƣ nhƣ cơ thể đƣợc phủ vảy sừng, hoặc mai, yếm; da không thấm nƣớc, hô hấp hoàn toàn bằng phổi nên môi trƣờng sống của các loài bò sát đa dạng hơn và có thể sống đƣợc ở nhiều môi trƣờng khô hạn (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998).

Hầu hết các loài bò sát, lƣỡng cƣ đƣợc sử dụng làm thực phẩm, một số loài đƣợc sử dụng làm thuốc chữa bệnh, làm cảnh. Trong số đó, có nhiều loài có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn cao nhƣ: các loài Rắn hổ mang (Naja. spp), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Tắc kè hoa (Gekko gecko), Trăn gấm (Python reticulatuss),. Không những vậy, các loài lƣỡng cƣ, bò sát còn là mắt xích quan trọng trong mạng lƣới thức ăn của hệ sinh thái, là thiên địch của rất nhiều loài côn trùng, giáp xác và thú nhỏ phá hoại mùa màng.

Trƣớc đây, con ngƣời chỉ khai thác các loài có giá trị cao nhƣng trƣớc sự khan hiếm về tài nguyên động vật hoang dã nên con ngƣời đã khai thác toàn bộ các loài bò sát, lƣỡng cƣ để phục vụ nhu cầu. Nhiều loài nòng nọc, ếch nhái nhỏ, các loài rắn nƣớc cũng không ngoại lệ. Tình trạng khai thác quá mức đã dẫn đến sự suy giảm 1 quần thể các loài nghiêm trọng ngoài tự nhiên. Theo tài liệu Sách đỏ Việt Nam (2007), hiện có 40 loài bò sát và 14 loài lƣỡng cƣ đang bị đe dọa ở các cấp độ khác nhau.

Trong khoảng 10 năm gần đây, khả năng bắt gặp các loài bò sát, lƣỡng cƣ ngày càng khan hiếm. Vì vậy, công tác nghiên cứu về thành phần loài bò sát, lƣỡng cƣ tại tất cả các vùng miền trong cả nƣớc và có các biện pháp bảo vệ chúng là rất cần thiết. Vƣờn Quốc gia (VQG) Vũ Quang đƣợc thành lập theo quyết định số 102 2002 QĐ-TTG của Thủ tƣớng Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 30 tháng 7 năm 2002. Vƣờn Quốc gia Vũ Quang có tổng diện tích 57.038,20ha trải dài trên 105 thôn bản, 13 xã vùng đệm thuộc 03 huyện Vũ Quang, Hƣơng Sơn và Hƣơng Khê.

Vƣờn Quốc gia Vũ Quang cách thành phố Hà Tĩnh 75km theo hƣớng Tây Bắc, là nơi từng đƣợc đánh giá là 1 trong 32 khu rừng đặc dụng có tính đa dạng sinh học cao nhất toàn quốc hiện nay. Vƣờn Quốc Gia Vũ Quang nằm trong Hành lang xanh phía Tây bao gồm: VQG Vũ Quang, Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh; Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An và VQG Xuân Liên, VQG Bến En tỉnh Thanh Hóa. Khu vực thuộc vùng rừng địa hình núi thấp Trung Bộ, là một trong những điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn cầu. Xét trên phạm vi toàn vùng thì đây cũng là khu vực nằm trong Vùng sinh thái Dãy Trƣờng Sơn, là 01 trong 03 Vùng sinh thái của Việt Nam nằm trong hệ thống 200 Vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu (Bộ NN và PTNT, 2004).

Nghiên cứu sơ bộ về đa dạng sinh học ở VQG Vũ Quang đã chứng tỏ đây là khu vực có tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt là thú và chim. Tuy nhiên, đối với lƣỡng cƣ, bò sát chỉ mới có báo cáo đánh giá ban đầu đƣợc thực hiện nhằm làm cơ sở cho dự án thành lập VQG mà không có các nghiên cứu nhằm cập nhật về hiện trạng đa dạng và đề xuất các giải pháp bảo tồn. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm khu hệ bò sát, lưỡng cư tại xã Hương Quang, VQG Vũ Quang”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung các thông tin hữu ích, phục vụ công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên bò sát, lƣỡng cƣ nói riêng và đa dạng sinh học nói chung tại xã Hƣơng Quang, VQG Vũ Quang.

2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về bò sát và lƣỡng cƣ ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu về bò sát và lƣỡng cƣ ở Việt Nam trong những năm cuối của thế kỷ 19 và nửa đầu thề kỷ 20 do các nhà khoa học nƣớc ngoài thực hiện. Morice tiến hành sƣu tập mẫu bò sát, lƣỡng cƣ ở khu vực Nam Bộ và phát triển ở nhiều tỉnh Bắc bộ, Trung bộ và một số đảo, Lào và Campuchia. dựa trên các mẫu vật thu đƣợc ở các địa phƣơng khác nhau đƣợc lƣu trữ ở “Bảo Tàng động vật” trƣờng Đại học Đông Dƣơng đã công bố hàng loạt công trình nghiên cứu về thành phần loài bò sát, lƣỡng cƣ ở Đông Dƣơng, đáng kể nhất là “Les Serpents marins de I’Indochine francaise” năm 1934, “Les Toutues de I’Indochine” năm 1941, “Les Batrascinens de I’Indochine” năm 1942.

Tất cả các công trình nghiên cứu bò sát, lƣỡng cƣ trong thời gian trƣớc năm 1945 chủ yếu tập trung điều tra, phát hiện thành phần loài, vùng phân bố của chúng. Sau năm 1945 đã có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam về thành phần các loài lƣỡng cƣ và bò sát, điển hình nhƣ: Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981, 1982); Lê Nguyên Ngật và cộng sự (1995, 2004, 2005, 2007, 2009); Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (1996, 2005, 2009). Năm 1978, Đào Văn Tiến đƣa ra Khóa định loại Rùa và Cá sấu Việt Nam. Tác giả đã sử dụng các đặc điểm dễ nhận biết về hình thái nhƣ màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm (đối với rùa) để phân loại và sắp xếp chúng theo các đơn vị phân loại khác nhau.

Theo đó, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 32 loài Rùa và 2 loài Cá Sấu. Năm 1979, Đào Văn Tiến tiếp tục xây dựng Khóa định loại về Thằn lằn Việt Nam. Cũng tƣơng tự nhƣ Khóa định loại Rùa và Cá sấu đã công bố năm trƣớc đó, tác giả cũng sử dụng các đặc điểm về hình dạng bên ngoài để phân loại 3 thằn lằn. Trong đó các đặc điểm đƣợc chú ý phân loại nhƣ: hình dạng và kích thƣớc của đầu, các nốt sần, vẩy; hình dạng của thân, lƣng và bụng phủ vẩy, nốt sần hoặc gai, số hàng vẩy trên lƣng.

Đối với các chi thì có các chỉ tiêu nhƣ chiều dài chi, số ngón, có màng bơi hay không, các ngón có giác bám hay không.Theo đó, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 77 loài thằn lằn. Năm 1981, Đào Văn Tiến tiếp tục xây dựng Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 1). Trong tài liệu đó, các chỉ tiêu đƣợc dùng để định loại là hình thái và kích thƣớc thân, hình dạng của đầu, số lƣợng hàng vẩy thân và vẩy lƣng… Trong Khóa định loại Rắn Việt Nam, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 47 loài. Không dừng lại ở đó, Đào Văn Tiến tiếp tục xuất bản Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 2) vào năm 1982 với những tiêu chí giống nhƣ Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 1) đã xuất bản trƣớc đó.

Trong Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 2), Đào Văn Tiến đã lập khóa định loại cho 112 loài thuộc họ rắn nƣớc. Các Khóa định loại bò sát, lƣỡng cƣ của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981, 1982) khá chi tiết và tỉ mỉ nên đƣợc sử dụng rộng rãi đến nay trong việc định loại và tra cứu các loài bò sát, lƣỡng cƣ Việt Nam. Tuy nhiên, do các tài liệu trên đã xây dựng khá lâu (cách đây gần hơn 35 năm) nên có nhiều loài mới phát hiện bổ sung không có trong các khóa định loại mà phải tra cứu theo các tài liệu phân loại cập nhật hơn. Các Khóa định loại bò sát, lƣỡng cƣ của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981; 1982) khá chi tiết và tỉ mỉ nên đƣợc sử dụng rộng rãi đến nay trong việc định loại và tra cứu các loài bò sát, lƣỡng cƣ Việt Nam.

Tuy nhiên, do các tài liệu trên đã xây dựng khá lâu (cách đây gần hơn 35 năm) nên có nhiều loài mới phát hiện bổ sung không có trong các khóa định loại mà phải tra cứu theo các tài liệu phân loại cập nhật hơn. Năm 1986, các tác giả Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã ghi nhận đƣợc ở Việt Nam có 200 loài bò sát, 90 loài ếch nhái. Số lƣợng loài ếch cây thống kê đƣợc là 20 loài. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã xây dựng Danh lục bò sát lưỡng cư Việt Nam.

Đây là kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các cuộc điều tra 4 tại các vùng miền trong cả nƣớc nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Trong bản Danh lục này, các tác giả đã thống kê đƣợc 258 loài bò sát và 82 loài lƣỡng cƣ ở Việt Nam. Từ năm 2002-2005, đã có nhiều nghiên cứu về lƣỡng cƣ, bò sát đƣợc thực hiện ở nhiều địa phƣơng trên cả nƣớc. Trong năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cộng sự đã tổng kết các kết quả nghiên cứu trƣớc đó về bò sát và lƣỡng cƣ của Việt Nam trong cuốn “Danh lục lƣỡng cƣ và bò sát Việt Nam” năm 2005 với 458 loài.

Năm 2006, Ngô Đắc Chứng và cộng sự đã điều tra thành phần bò sát, lƣỡng cƣ ở các tỉnh Phú Yên, Đồng Tháp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ