ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý trải dài trên nhiều vĩ tuyến, có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mƣa nhiều; địa hình chủ yếu là đồi núi chiếm ¾ diện tích của cả nƣớc, hệ thống sông ngòi dày đặc tạo nên tính đa dạng sinh học cao cả về thực vật, động vật trong đó có khu hệ bò sát, lƣỡng cƣ. Theo tài liệu của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (2009) có 176 loài lƣỡng cƣ thuộc 10 họ, 3 bộ và 357 loài bò sát thuộc 24 họ, 3 bộ đã đƣợc ghi nhận ở Việt Nam. Các loài bò sát, lƣỡng cƣ phân bố khắp các vùng trong cả nƣớc từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Từ năm 2009 đến nay, các nghiên cứu về bò sát, lƣỡng cƣ ngày càng đƣợc quan tâm; số lƣợng các loài bò sát, lƣỡng cƣ mới đƣợc phát hiện ngày càng tăng lên.
Sinh cảnh sống của các loài bò sát, lƣỡng cƣ rất đa dạng. Sự tiến hóa về cơ thể sống giúp các loài bò sát, lƣỡng cƣ có thể sống đƣợc trong nhiều môi trƣờng khác nhau nhƣ: trên cây, sống trong các tầng cây bụi, dƣới nƣớc, trên mặt đất và dƣới mặt đất. Các loài lƣỡng cƣ là động vật có xƣơng sống đầu tiên sống trên cạn nhƣng vẫn còn mang nhiều đặc điểm của môi trƣờng sống dƣới nƣớc, chẳng hạn nhƣ: giai đoạn trứng và nòng nọc sống dƣới nƣớc trải qua quá trình biến thái thành con non và con trƣởng thành sống ở trên cạn. Các loài bò sát do có cấu tạo cơ thể tiến hóa hơn lƣỡng cƣ nhƣ cơ thể đƣợc phủ vảy sừng, hoặc mai, yếm; da không thấm nƣớc, hô hấp hoàn toàn bằng phổi nên môi trƣờng sống của các loài bò sát đa dạng hơn và có thể sống đƣợc ở nhiều môi trƣờng khô hạn (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998).
Hầu hết các loài bò sát, lƣỡng cƣ đƣợc sử dụng làm thực phẩm, một số loài đƣợc sử dụng làm thuốc chữa bệnh, làm cảnh. Trong số đó, có nhiều loài có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn cao nhƣ: các loài Rắn hổ mang (Naja. spp), Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), Tắc kè hoa (Gekko gecko), Trăn gấm (Python reticulatuss),. Không những vậy, các loài lƣỡng cƣ, bò sát còn là mắt xích quan trọng trong mạng lƣới thức ăn của hệ sinh thái, là thiên địch của rất nhiều loài côn trùng, giáp xác và thú nhỏ phá hoại mùa màng.
Trƣớc đây, con ngƣời chỉ khai thác các loài có giá trị cao nhƣng trƣớc sự khan hiếm về tài nguyên động vật hoang dã nên con ngƣời đã khai thác toàn bộ các loài bò sát, lƣỡng cƣ để phục vụ nhu cầu. Nhiều loài nòng nọc, ếch nhái nhỏ, các loài rắn nƣớc cũng không ngoại lệ. Tình trạng khai thác quá mức đã dẫn đến sự suy giảm 1 quần thể các loài nghiêm trọng ngoài tự nhiên. Theo tài liệu Sách đỏ Việt Nam (2007), hiện có 40 loài bò sát và 14 loài lƣỡng cƣ đang bị đe dọa ở các cấp độ khác nhau.
Trong khoảng 10 năm gần đây, khả năng bắt gặp các loài bò sát, lƣỡng cƣ ngày càng khan hiếm. Vì vậy, công tác nghiên cứu về thành phần loài bò sát, lƣỡng cƣ tại tất cả các vùng miền trong cả nƣớc và có các biện pháp bảo vệ chúng là rất cần thiết. Vƣờn Quốc gia (VQG) Vũ Quang đƣợc thành lập theo quyết định số 102 2002 QĐ-TTG của Thủ tƣớng Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 30 tháng 7 năm 2002. Vƣờn Quốc gia Vũ Quang có tổng diện tích 57.038,20ha trải dài trên 105 thôn bản, 13 xã vùng đệm thuộc 03 huyện Vũ Quang, Hƣơng Sơn và Hƣơng Khê.
Vƣờn Quốc gia Vũ Quang cách thành phố Hà Tĩnh 75km theo hƣớng Tây Bắc, là nơi từng đƣợc đánh giá là 1 trong 32 khu rừng đặc dụng có tính đa dạng sinh học cao nhất toàn quốc hiện nay. Vƣờn Quốc Gia Vũ Quang nằm trong Hành lang xanh phía Tây bao gồm: VQG Vũ Quang, Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh; Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An và VQG Xuân Liên, VQG Bến En tỉnh Thanh Hóa. Khu vực thuộc vùng rừng địa hình núi thấp Trung Bộ, là một trong những điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn cầu. Xét trên phạm vi toàn vùng thì đây cũng là khu vực nằm trong Vùng sinh thái Dãy Trƣờng Sơn, là 01 trong 03 Vùng sinh thái của Việt Nam nằm trong hệ thống 200 Vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu (Bộ NN và PTNT, 2004).
Nghiên cứu sơ bộ về đa dạng sinh học ở VQG Vũ Quang đã chứng tỏ đây là khu vực có tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt là thú và chim. Tuy nhiên, đối với lƣỡng cƣ, bò sát chỉ mới có báo cáo đánh giá ban đầu đƣợc thực hiện nhằm làm cơ sở cho dự án thành lập VQG mà không có các nghiên cứu nhằm cập nhật về hiện trạng đa dạng và đề xuất các giải pháp bảo tồn. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm khu hệ bò sát, lưỡng cư tại xã Hương Quang, VQG Vũ Quang”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung các thông tin hữu ích, phục vụ công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên bò sát, lƣỡng cƣ nói riêng và đa dạng sinh học nói chung tại xã Hƣơng Quang, VQG Vũ Quang.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về bò sát và lƣỡng cƣ ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu về bò sát và lƣỡng cƣ ở Việt Nam trong những năm cuối của thế kỷ 19 và nửa đầu thề kỷ 20 do các nhà khoa học nƣớc ngoài thực hiện. Morice tiến hành sƣu tập mẫu bò sát, lƣỡng cƣ ở khu vực Nam Bộ và phát triển ở nhiều tỉnh Bắc bộ, Trung bộ và một số đảo, Lào và Campuchia. dựa trên các mẫu vật thu đƣợc ở các địa phƣơng khác nhau đƣợc lƣu trữ ở “Bảo Tàng động vật” trƣờng Đại học Đông Dƣơng đã công bố hàng loạt công trình nghiên cứu về thành phần loài bò sát, lƣỡng cƣ ở Đông Dƣơng, đáng kể nhất là “Les Serpents marins de I’Indochine francaise” năm 1934, “Les Toutues de I’Indochine” năm 1941, “Les Batrascinens de I’Indochine” năm 1942.
Tất cả các công trình nghiên cứu bò sát, lƣỡng cƣ trong thời gian trƣớc năm 1945 chủ yếu tập trung điều tra, phát hiện thành phần loài, vùng phân bố của chúng. Sau năm 1945 đã có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam về thành phần các loài lƣỡng cƣ và bò sát, điển hình nhƣ: Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981, 1982); Lê Nguyên Ngật và cộng sự (1995, 2004, 2005, 2007, 2009); Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trƣờng (1996, 2005, 2009). Năm 1978, Đào Văn Tiến đƣa ra Khóa định loại Rùa và Cá sấu Việt Nam. Tác giả đã sử dụng các đặc điểm dễ nhận biết về hình thái nhƣ màu sắc, cách trang trí, hình dạng các tấm sừng ở mai và yếm (đối với rùa) để phân loại và sắp xếp chúng theo các đơn vị phân loại khác nhau.
Theo đó, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 32 loài Rùa và 2 loài Cá Sấu. Năm 1979, Đào Văn Tiến tiếp tục xây dựng Khóa định loại về Thằn lằn Việt Nam. Cũng tƣơng tự nhƣ Khóa định loại Rùa và Cá sấu đã công bố năm trƣớc đó, tác giả cũng sử dụng các đặc điểm về hình dạng bên ngoài để phân loại 3 thằn lằn. Trong đó các đặc điểm đƣợc chú ý phân loại nhƣ: hình dạng và kích thƣớc của đầu, các nốt sần, vẩy; hình dạng của thân, lƣng và bụng phủ vẩy, nốt sần hoặc gai, số hàng vẩy trên lƣng.
Đối với các chi thì có các chỉ tiêu nhƣ chiều dài chi, số ngón, có màng bơi hay không, các ngón có giác bám hay không.Theo đó, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 77 loài thằn lằn. Năm 1981, Đào Văn Tiến tiếp tục xây dựng Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 1). Trong tài liệu đó, các chỉ tiêu đƣợc dùng để định loại là hình thái và kích thƣớc thân, hình dạng của đầu, số lƣợng hàng vẩy thân và vẩy lƣng… Trong Khóa định loại Rắn Việt Nam, tác giả đã đƣa ra khóa định loại cho 47 loài. Không dừng lại ở đó, Đào Văn Tiến tiếp tục xuất bản Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 2) vào năm 1982 với những tiêu chí giống nhƣ Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 1) đã xuất bản trƣớc đó.
Trong Khóa định loại Rắn Việt Nam (tập 2), Đào Văn Tiến đã lập khóa định loại cho 112 loài thuộc họ rắn nƣớc. Các Khóa định loại bò sát, lƣỡng cƣ của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981, 1982) khá chi tiết và tỉ mỉ nên đƣợc sử dụng rộng rãi đến nay trong việc định loại và tra cứu các loài bò sát, lƣỡng cƣ Việt Nam. Tuy nhiên, do các tài liệu trên đã xây dựng khá lâu (cách đây gần hơn 35 năm) nên có nhiều loài mới phát hiện bổ sung không có trong các khóa định loại mà phải tra cứu theo các tài liệu phân loại cập nhật hơn. Các Khóa định loại bò sát, lƣỡng cƣ của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981; 1982) khá chi tiết và tỉ mỉ nên đƣợc sử dụng rộng rãi đến nay trong việc định loại và tra cứu các loài bò sát, lƣỡng cƣ Việt Nam.
Tuy nhiên, do các tài liệu trên đã xây dựng khá lâu (cách đây gần hơn 35 năm) nên có nhiều loài mới phát hiện bổ sung không có trong các khóa định loại mà phải tra cứu theo các tài liệu phân loại cập nhật hơn. Năm 1986, các tác giả Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã ghi nhận đƣợc ở Việt Nam có 200 loài bò sát, 90 loài ếch nhái. Số lƣợng loài ếch cây thống kê đƣợc là 20 loài. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã xây dựng Danh lục bò sát lưỡng cư Việt Nam.
Đây là kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các cuộc điều tra 4 tại các vùng miền trong cả nƣớc nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Trong bản Danh lục này, các tác giả đã thống kê đƣợc 258 loài bò sát và 82 loài lƣỡng cƣ ở Việt Nam. Từ năm 2002-2005, đã có nhiều nghiên cứu về lƣỡng cƣ, bò sát đƣợc thực hiện ở nhiều địa phƣơng trên cả nƣớc. Trong năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cộng sự đã tổng kết các kết quả nghiên cứu trƣớc đó về bò sát và lƣỡng cƣ của Việt Nam trong cuốn “Danh lục lƣỡng cƣ và bò sát Việt Nam” năm 2005 với 458 loài.
Năm 2006, Ngô Đắc Chứng và cộng sự đã điều tra thành phần bò sát, lƣỡng cƣ ở các tỉnh Phú Yên, Đồng Tháp.