ĐẶT VẤN ĐỀ Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên, thuộc hệ thống Rừng đặc dụng Việt Nam đƣợc quy hoạch với diện tích 23. Kết quả nghiên cứu sơ bộ trƣớc đây đã cho thấy tại khu bảo tồn có 11 kiểu thảm thực vật khác nhau, cùng với trên 5.500 ha rừng giàu và rừng trung bình ít bị tác động [1]. Đây là môi trƣờng sống lý tƣởng cho rất nhiều loài động, thực vật hoang dã có giá trị cần đƣợc ƣu tiên bảo tồn. Nằm trong ranh giới của khu bảo tồn có 2.438,0 ha đất ngập nƣớc thuộc hồ chứa nƣớc Cửa Đạt, đây là môi trƣờng sinh sống lý tƣởng của nhiều loài chim đang trú ngụ và sinh sống tại đây nhƣ: Cò lửa (Ixobrychus cinnamomeus), Cò trắng (Egretta garzetta), Cò ruồi (Bubulcus ibis), Cò xanh (Butorides striatus), Diệc xám (Ardea cinerea),Le nâu (Dendrocygna javanica), Le hôi (Tachybaptus ruficollis),Sả đầu đen (Halcyon pileata), Sả đầu nâu (Halcyon smyrnensis), Bồng chanh (Alcedo atthis)… Đặc biệt,Khu BTTN Xuân Liên còn có vị trí nằm ở điểm giao thoa các vùng quan trọng của các loài chim đặc trƣng cho khu vực Tây Bắc và Bắc Trung bộ [2].
Cho tới nay, đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần loài chim ở khu bảo tồn. Đỗ Tƣớc (1999) [15] đã ghi nhận đƣợc 135 loài chim, thuộc 38 họ và 11 bộ; Ban quản lý khu BTTN Xuân Liên (2013) [2] đã ghi nhận đƣợc 192 loài chim, thuộc 41 họ và 15 bộ. Tuy nhiên đây chỉ là các nghiên cứu sơ bộ về thành phần loài, đƣợc tiến hành trong thời gian ngắn, vì vậy chƣa phản ánh hết tính đa dạng về thành phần loài chim trong khu vực nghiên cứu. Ngoài ra các thông tin về phân bố của các loài chim với các sinh cảnh rừng và đai cao vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin về phân bố, hiện trạng cũng nhƣ tình trạng của các loài chim hiện có trong khu bảo tồn, làm cơ sở đƣa ra các giải pháp quản lý các loài chim tại khu BTTN Xuân Liên. 2 Chƣơng1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu chim nƣớc ngoài Hiện nay, trên thế giới đã thống kê đƣợc khoảng hơn 9.700 loài chim khác nhau, trong đó bộ Sẻ đƣợc coi là bộ giàu họ nhất với gần 30 họ, bộ Ngỗng, bộ Bồ câu, bộ Nuốc, bộ Vẹt, bộ Cu cu có ít họ nhất chỉ từ 1-2 họ [20]. Tuy nhiên, con số đó vẫn thay đổi theo thời gian bởi có nhiều loài mới đƣợc phát hiện thêm, bên cạnh đó cũng có nhiều loài bị tuyệt chủng.
Đáng chú ý là có nhiều loài đƣợc coi là đã tuyệt chủng thì mấy chục năm hoặc thế kỷ sau ngƣời ta lại phát hiện ra chúng và sự kiện đó ngƣời ta gọi là “sự hồi sinh” hay “phát hiện lại” [23]. Hiện nay trong tổng số 9.700 loài chim thì có đến hơn 1.200 loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng và khoảng 2000 loài khác đang trong tình trạng nguy cấp. Đặc biệt, trong đó có 179 loài gần nhƣ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên nhƣ loài chim Sẻ ức đỏ Châu Âu (chỉ còn 300 cá thể). Các nhà nghiên cứu đã mất 50.000 giờ nghiên cứu ngoài trời tại 100 quốc gia và đã thống kê đƣợc gần một nửa số lƣợng các loài chim nƣớc đang bị suy giảm, phần lớn là do tốc độ phát triển kinh tế và hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu [18].
Trong tổng số 9.700 loài chim trên thế giới, có 44% số loài đang bị suy giảm, 34% khá ổn định, 17% đang trên đà tăng. Trong đó, Châu Á là nơi có tốc độ giảm nhanh nhất với 62% số lƣợng các loài chim nƣớc bị suy giảm hoặc bị tuyệt chủng, thứ hai là châu Phi (48%), tiếp theo là Châu Úc (45%),Nam Mỹ (42%) và Bắc Mỹ (37%) [18]. Lịch sử nghiên cứu chim ở Việt Nam Việt Nam là một trong những nƣớc có khu hệ chim đa dạng và phong phú trong khu vực Đông Nam Á. Tổng số loài chim đƣợc ghi nhận trong phạm vi toàn quốc từ 828 [13] đến 887 loài thuộc 88 họ, 19 bộ [14], trong đó có nhiều loài quý 3 hiếm, đặc hữu đối với Việt Nam và khu vực Đông Dƣơng.
Sự phong phú về chủng loại các loài chim Việt Nam là do kết quả của sự phân hóa địa hình, khí hậu, môi trƣờng sống… trải dài từ Bắc tới Nam. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 Năm 1931, Delacour và Jabuille đã có công trình nghiên cứu mô tả về các loài chim ở Đông Dƣơng với 954 loài và loài phụ có kèm theo một ít dẫn liệu chung về đặc tính sinh học và phân bố của chúng [21]. Năm 1951, Delacoure trên cơ sở phân tích các bộ sƣu tập chim, đã bổ sung lần thứ ba danh sách chim Đông Dƣơng với 1.085 loài và loài phụ. Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu trong lịch sử nghiên cứu chim ở Việt Nam, với các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà nghiên cứu chim.
Trong thời gian này một số côngtrình nghiên cứu đƣợc công bố bởi các nhà khoa học nhƣ Võ Quý (1962;1966), Trần Gia Huấn (1960;1961), Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anoro (1967).hầu hết các công trình đã công bố cũng mới chỉ đề cập đến khu hệ chim của một vài vùng nhỏ ở Việt Nam hoặc đi sâu vào một số đặc điểm sinh học của vài loài chim riêng biệt. Đến năm 1971, Võ Quý đã khái quát những đặc điểm chung cũng nhƣ chi tiết đặc điểm sinh học của 675 loài và loài phụ thƣờng gặp ở miền Bắc Việt Nam. Trong số đó, có một loài mới và một loài phụ mới cho khoa học là loài Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhnensis) và phân loài Hút mật tam đảo (Nectarinia jugularis tamdaoensis). Theo đặc tính cƣ trú, tác giả đã chiatoàn bộ các loài chim gặp trên miền Bắc Việt Nam thành 6 nhóm: Định cƣ (415 loài), làm tổ nhƣng không định cƣ (28 loài), trú đông (160 loài), bay qua (7 loài), lang thang (13 loài), chƣa xác định (11 loài) [9].
Năm 1972, Võ Quý tiếp tục đƣa ra kết quả nghiên cứu về sự phân bố theo sinh cảnh của khu hệ chim Bắc Việt Nam [10]. Đây là công trình nghiên cứu về chim đầy đủ, có hệ thống và sát thực nhất trong giai đoạn này. Nhƣng do đối tƣợng nghiên cứu 4 rộng nên tác giả chƣa thểnghiên cứu về nơi ở của chúng, đối với mỗi loài tác giả mới chỉ ra loại sinh cảnh, đai cao chúng sống mà chƣa chỉ ra đặc điểm sinh cảnh sống của chim nhƣ tổ thành thực vật, vị trí tầng tán yêu thích. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 Sau khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ và thống nhất đất nƣớc vào năm 1975, các hoạt động nghiên cứu chim đƣợc tiếp tục đẩy mạnh.
Công trình nghiên cứu đáng chú ý trong giai đoạn này là của Võ Quý (1975;1981) [11] [12], trong đó tác giả đã mô tả 1.009 loài và phân loài chim đƣợc ghi nhận ở Việt Nam. Năm 1995, Võ Quý, Nguyễn Cử đã xuất bản Danh lục Chim Việt Nam với 828 loài, 19 bộ, 81 họ, cùng với các đặc điểm về tính chất cƣ trú, vùng phân bố và độ phong phú của mỗi loài [13]. Năm 2000, Nguyễn Cử, Lê Trọng Khải, Karen Philips đã giới thiệu hơn 500 loài chim trong tổng số hơn 867 loài chim có ở Việt Nam. Trong đó mỗi loài đƣợc mô tả về phân bố, tình trạng, nơi ở và có hình vẽ mầu kèm theo [6].
Cho đến những năm gần đây, các dẫn liệu về thành phần loài chim ở Việt Nam vẫn tiếp tục đƣợc cập nhật, song danh lục chim Việt Nam đã đạt tới con số 887 loài, 88 họ, 19 bộ [14]. Lịch sử nghiên cứu chim tại Khu BTTN Xuân Liên Khu bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên đƣợc thành lập theo Quyết định số 1476/2000/QĐ-UBND ngày 15/6/2000 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá. Khu bảo tồn có tổng diện tích 23.815,5 ha, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa. Với vị trí địa lý tiếp giáp Khu BTTN Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An và Khu BTTN Nậm Xam nƣớc CHDCND Lào và là vùng chuyển tiếp của 2 vùng sinh thái Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, tạo thành khu vực rừng rộng lớn có tính đa dạng sinh học rất cao [1].
Kết quả điều tra của Đỗ Tƣớc (1999) đã ghi nhận đƣợc 135 loài chim, thuộc 38 họ và 11 bộ khác nhau phân bố ở Khu BTTN Xuân Liên - Thanh Hóa, trong đó có 6 loài trong sách Đỏ Việt Nam và danh lục đỏ IUCN 2007 [16]. 5 Kết quả điều tra của Nguyễn Lân Hùng Sơn, Hoàng Ngọc Hùng (2011) đã ghi nhận đƣợc 189 loài chim, thuộc 14 bộ, 53 họ [15]. Kết quả điều tra năm 2012 - 2013 của Ban quản lý Khu BTTN Xuân Liên đã ghi nhận 192 loài chim, 41 họ và 15 bộ, trong đó có 5 loài đƣợc ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007), có 2 loài trong Danh lục đỏ IUCN (2012), có 9 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP [2]. Kết quả nghiên cứu của Ngô Xuân Tƣờng, Lê Đình Thủy, Hà Quý Quỳnh (2015) đã ghi nhận đƣợc 186 loài chim thuộc 40 họ, 15 bộ [17].
Tóm lại, cho đến nay khu hệ chim của khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên mới chỉ đƣợc điều tra, thống kê sơ bộ về thành phần loài và thƣờng đƣợc kết hợp với các chƣơng trình điều tra đa dạng sinh học nói chung chứ chƣa có công trình nghiên cứu riêng về khu hệ chim. Vì vậy, vẫn còn nhiều tiềm năng về tính đa dạng thành phần loài cũng nhƣ về phân bố, hiện trạng và tình trạng của các loài chim hiện có trong khu bảo tồn. 6 Chƣơng 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu chung Xây dựng dữ liệu về tính đa dạng của khu hệ chim ở Xuân Liên và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững các loài chim ở Khu BTTN Xuân Liên. Mục tiêu cụ thể - Xác định đƣợc thành phần loài chim và tính đa dạng phân loại học của khu hệ chim ở Khu BTTN Xuân Liên. - Xác định phân bố của các loài chim tại Khu BTTN Xuân Liên theo các kiểu sinh cảnh và đai cao. - Đề xuất đƣợc các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ chim ở Khu BTTN Xuân Liên.
Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các loài chim và sinh cảnh của chúng ở Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa. - Khu vực nghiên cứu: Nghiên cứu đƣợc tiến hành trên khu vực 23.815,5 ha rừng đặc dụng khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.