Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao nhờ vị trí địa lý trải dài trên nhiều vĩ tuyến, địa hình phức tạp và khí hậu phân hóa đa dạng. Theo các số liệu thống kê sinh học, tài nguyên bò sát và lưỡng cư của Việt Nam đã ghi nhận 357 loài bò sát (thuộc 24 họ, 3 bộ) và 176 loài lưỡng cư (thuộc 10 họ, 3 bộ). Tuy nhiên, trước các sức ép từ sự gia tăng dân số, tập quán khai thác tài nguyên rừng chưa hợp lý, săn bắt phục vụ thương mại và suy thoái sinh cảnh, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Sách đỏ Việt Nam (2007) đã xếp hạng 39 loài bò sát và 12 loài lưỡng cư vào danh mục cần ưu tiên bảo tồn. Nhằm bảo vệ nguồn gen và các hệ sinh thái đặc thù, hệ thống 164 khu rừng đặc dụng đã được thiết lập trên toàn quốc.

Vườn quốc gia (VQG) Ba Vì được thành lập năm 1991, có tổng diện tích tự nhiên 9.704,35 ha, sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới phong phú với nhiều loài thực vật quý hiếm như Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Sến mật (Madhuca pasquieri), Giổi lá bạc (Talauma gioi), Bát giác liên (Podophyllum tonkinense). Mặc dù vậy, hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư sinh sống tại 16 xã xung quanh vùng đệm đang gây áp lực lên khu hệ động vật hoang dã. Các nghiên cứu trước đây tại VQG Ba Vì (như Phạm Tuấn Dũng, 2013; Phạm Viết Đại, 2013; Nguyễn Đình Gươm, 2017) còn tồn tại sự thiếu thống nhất về danh lục, chưa phân tích rõ cơ sở bổ sung loài và chưa cập nhật đồng bộ theo hệ thống phân loại hiện hành của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009). Do đó, khóa luận thực hiện nghiên cứu này nhằm hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về thành phần loài bò sát, lưỡng cư, đánh giá mức độ đa dạng sinh học và đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn bền vững.

Khóa luận xác định mục tiêu chung và 4 nhiệm vụ/mục tiêu cụ thể được đánh số như sau:

  • Mục tiêu chung: Xây dựng cơ sở dữ liệu về các loài lưỡng cư, bò sát góp phần vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Ba Vì.
  • Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
    1. Lập được bản danh sách các loài bò sát, lưỡng cư tại VQG Ba Vì.
    2. Xác định được mức độ đa dạng về thành phần loài bò sát, lưỡng cư tại VQG Ba Vì.
    3. Xác định được giá trị tài nguyên và các mối đe dọa đến khu hệ bò sát, lưỡng cư tại khu vực nghiên cứu.
    4. Đề xuất các giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn các loài bò sát, lưỡng cư tại VQG Ba Vì.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài động vật thuộc lớp Bò sát (Reptilia) và lớp Lưỡng cư (Amphibia) ghi nhận tại VQG Ba Vì.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và các sinh cảnh rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng tre nứa, đất nông nghiệp và thủy vực thuộc VQG Ba Vì.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài triển khai trong 4 tháng (từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018), trong đó thời gian điều tra thực địa ngoại nghiệp tập trung từ ngày 04/03/2018 đến ngày 04/04/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và phân loại học:

  • Hệ thống phân loại: Tác giả sử dụng danh lục và hệ thống phân loại của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường (2009) trong công trình Herpetofauna of Viet Nam làm chuẩn đối chiếu cho tên khoa học và tên phổ thông. Khóa định loại hình thái kế thừa tài liệu kinh điển của Đào Văn Tiến (1978, 1979, 1981, 1982) kết hợp bộ ảnh màu nhận dạng.
  • Quan điểm đánh giá đa dạng sinh học: Áp dụng lý thuyết phân bậc không gian của Robert Whittaker (1972) gồm đa dạng Alpha ($\alpha$ - số loài trong một sinh cảnh), đa dạng Beta ($\beta$ - độ sai khác số loài giữa hai sinh cảnh) và đa dạng Gamma ($\gamma$ - tổng số loài trên quy mô khu vực).
  • Các chỉ số định lượng:
    • Chỉ số đa dạng Simpson: $D = 1 - \sum P_i^2$
    • Chỉ số đa dạng Shannon – Weaver: $H' = - \sum_{i=1}^{S} P_i \ln(P_i)$
    • Chỉ số độ đồng đều Pielou: $E = \frac{e^{H'}}{S}$ (trong đó $P_i$ là tỷ lệ cá thể loài thứ $i$ trên tổng số cá thể quan sát; $S$ là tổng số loài ghi nhận; $e \approx 2,718$).
  • Khung đánh giá tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2017), Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Nghị định 160/2013/NĐ-CP và Công ước CITES (2015).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  1. Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập bản đồ hiện trạng rừng VQG Ba Vì, báo cáo kinh tế - xã hội địa phương và rà soát các công trình nghiên cứu trước đó. Tác giả đã loại bỏ 8 loài từ danh lục 98 loài của Nguyễn Đình Gươm (2017) do không có mẫu vật và nằm ngoài vùng phân bố tự nhiên tại Ba Vì, đồng thời loại loài Odorrana chloronota chưa được chuẩn hóa theo danh lục 2009.
  2. Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân bản địa giàu kinh nghiệm đi rừng, cán bộ kiểm lâm địa bàn và lãnh đạo Hạt Kiểm lâm nhằm thu thập dữ liệu về sự xuất hiện của các loài, sinh cảnh phân bố, giá trị sử dụng và tình trạng săn bắt. Quá trình phỏng vấn sử dụng bảng câu hỏi bán cấu trúc kết hợp bộ ảnh màu để kiểm chứng thông tin nhận dạng loài.
  3. Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 05 tuyến khảo sát thực địa với tổng chiều dài mỗi tuyến từ 3 đến 4 km, đi qua 5 dạng sinh cảnh: đồng ruộng (SC1), ven hồ sông suối (SC2), rừng tre nứa (SC3), rừng tự nhiên (SC4) và rừng trồng (SC5).
    • Di chuyển với tốc độ trung bình 1 km/h, quan sát dải hành lang rộng 5 m về mỗi bên tuyến (bề rộng tuyến điều tra 10 m).
    • Khảo sát thực hiện ban ngày (9h00 - 16h00) và ban đêm (19h00 - 22h00). Khi bắt gặp cá thể, tiến hành chụp ảnh, định vị tọa độ GPS, ghi nhận thời gian, sinh cảnh, bắt mẫu tạm thời bằng tay/vợt để đánh dấu (buộc chỉ gắn thẻ lon kim loại đục lỗ) trước khi thả hoặc mang về lán trại định loại.
  4. Phương pháp xử lý số liệu: Nhập và tính toán ma trận dữ liệu phân bố, tính các chỉ số sinh thái $D$, $H'$, $E$ bằng phần mềm Microsoft Excel.
Tuyến Chiều dài Sinh cảnh đi qua Tọa độ điểm đầu Tọa độ điểm cuối
Tuyến 1 4 km SC3, SC5 540834N / 2333814E 540534N / 2333958E
Tuyến 2 3 km SC3, SC4 541001N / 2334098E 538755N / 2333990E
Tuyến 3 3 km SC2, SC5 541607N / 2333628E 539030N / 2332801E
Tuyến 4 3 km SC1, SC4 539270N / 2332294E 539344N / 2332242E
Tuyến 5 3 km SC1, SC2 537528N / 2329704E 537984N / 2329413E

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 tổng hợp lịch sử phân loại học bò sát, lưỡng cư tại Việt Nam qua các mốc thời gian: công trình của Đào Văn Tiến (1978-1982) với các khóa định loại Rùa, Cá sấu (32 loài rùa, 2 loài cá sấu), Thằn lằn (77 loài) và Rắn (159 loài qua 2 tập); danh lục của Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc năm 1996 (258 loài bò sát, 82 loài lưỡng cư); danh lục năm 2005 (296 loài bò sát, 162 loài lưỡng cư) và công trình năm 2009 (357 loài bò sát, 176 loài lưỡng cư). Chương này cũng phân tích các mối đe dọa toàn cầu theo cảnh báo của IUCN (2017) đối với 1/3 số loài lưỡng cư và rà soát các công trình nghiên cứu riêng tại VQG Ba Vì từ năm 2010 đến 2017. Đồng thời, tác giả làm rõ cơ sở lý thuyết về đánh giá đa dạng sinh học theo các bậc đa dạng $\alpha, \beta, \gamma$ và các chỉ số cấu trúc quần xã.

Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Chương 2 mô tả điều kiện tự nhiên VQG Ba Vì với tọa độ địa lý từ $20^\circ 55'$ đến $21^\circ 07'$ vĩ độ Bắc, $105^\circ 15'$ đến $105^\circ 30'$ kinh độ Đông, trải rộng trên địa bàn huyện Ba Vì (Hà Nội) và hai huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn (Hòa Bình). Địa hình đặc trưng bởi vùng núi cao trung bình với 3 đỉnh: Đỉnh Vua (1.298 m), Đỉnh Tản Viên (1.227 m), Đỉnh Ngọc Hoa (1.180 m), độ dốc trung bình $25^\circ$, nhiều nơi vượt quá $35^\circ$. Đất Feralit vàng đỏ trên núi thấp và đất Feralit nhiệt đới ẩm vùng đồi có độ chua lớn (pH = 4,0 - 4,5). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có sự phân hóa vi khí hậu rõ rệt theo độ cao (nhiệt độ giảm $0,55^\circ\text{C}$ khi lên cao 100 m; lượng mưa trung bình từ 1.600 đến 2.400 mm/năm).

Về kinh tế - xã hội, vùng đệm có 16 xã với 4 dân tộc sinh sống: Mường (chiếm 77,3%), Kinh (20,2%), Dao (2,3%), Thái (0,2%). Tổng số lao động là 65.863 người, trong đó 94% làm nông - lâm nghiệp (60.132 người làm nông nghiệp thuần túy). Cơ cấu kinh tế đơn điệu, thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.000.000 đồng/năm, tỷ lệ hộ phụ thuộc vào tài nguyên rừng còn cao, dẫn tới các tác động tiêu cực như khai thác gỗ củi, săn bắt động vật hoang dã.

Chương 3: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết hệ thống 4 mục tiêu cụ thể, xác định đối tượng là lớp Bò sát và Lưỡng cư tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì. Kế hoạch nghiên cứu gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị và đề cương (13/01/2018 - 02/03/2018), điều tra thực địa (04/03/2018 - 04/04/2018), xử lý số liệu và hoàn thiện khóa luận (đến tháng 05/2018). Thiết lập quy trình điều tra tuyến, bảng biểu ghi nhận giá trị tài nguyên, phương pháp phỏng vấn có sử dụng ảnh màu và công thức tính toán các chỉ số toán học sinh thái.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 cung cấp kết quả định lượng chi tiết về khu hệ bò sát, lưỡng cư tại VQG Ba Vì:

  1. Thành phần loài: Ghi nhận tổng cộng 90 loài thuộc 22 họ và 3 bộ. Lớp Bò sát (Reptilia) chiếm ưu thế với 65 loài (72,22%), 16 họ (72,72%), 2 bộ. Lớp Lưỡng cư (Amphibia) có 25 loài (27,78%), 6 họ (27,28%), 1 bộ. Nguồn gốc ghi nhận: quan sát trực tiếp 24 loài (26,67%), phỏng vấn 33 loài (36,66%), kế thừa tài liệu 90 loài (100%), mẫu vật lưu trữ không thu thập mới (0 loài).
  2. Cấu trúc phân loại:
    • Lớp Bò sát: Bộ Có vảy (Squamata) chiếm 12 họ, 59 loài; Bộ Rùa (Testudines) có 4 họ, 6 loài. Họ Rắn nước (Colubridae) đa dạng nhất với 27 loài (chiếm 41,53% số loài bò sát), tiếp đến là họ Thằn lằn bóng (Scincidae) với 8 loài (12,39%). Sáu họ chỉ có 1 loài duy nhất (1,53%) gồm Anguidae, Varanidae, Typhlopidae, Pythonidae, Platysternidae, Testudinidae.
    • Lớp Lưỡng cư: Thuộc bộ Không đuôi (Anura), họ Ếch nhái chính thức (Dicroglossidae) phong phú nhất với 9 loài (36%), tiếp theo là họ Ếch nhái (Ranidae) với 7 loài (28%), họ Ếch cây (Rhacophoridae) với 5 loài (20%), họ Nhái bầu (Microhylidae) với 2 loài (8%), họ Cóc (Bufonidae) và Cóc bùn (Megophryidae) mỗi họ có 1 loài (4%).
  3. Phân bố và đa dạng theo sinh cảnh:
Chỉ số / Sinh cảnh Đồng ruộng (SC1) Ven hồ, sông suối (SC2) Rừng tre nứa (SC3) Rừng tự nhiên (SC4) Rừng trồng (SC5)
Số loài ghi nhận 7 7 5 16 8
Tỷ lệ (%) 7,69% 7,68% 5,55% 17,77% 8,88%
Đa dạng Simpson ($D$) 0,750566 0,831633 0,790000 0,916100 0,817778
Đa dạng Shannon ($H'$) 1,64388 1,56546 1,541708 2,64844 1,89431
Độ đồng đều Pielou ($E$) 0,731159 0,676370 0,964680 0,867620 0,820430

Sinh cảnh rừng tự nhiên (SC4) có mức độ đa dạng cao nhất về cả số lượng loài quan sát ($S = 16$), chỉ số Shannon ($H' = 2,64844$) và chỉ số Simpson ($D = 0,9161$). Sinh cảnh rừng tre nứa nghèo nhất về số loài ($S = 5$) nhưng có độ đồng đều cao nhất ($E = 0,96468$). Sinh cảnh ven hồ, sông suối (SC2) kém đa dạng nhất về chỉ số Shannon và độ đồng đều. Đa dạng Beta đạt giá trị cao nhất giữa SC2 và SC4 (chênh lệch 21 loài), SC1 và SC4 (19 loài), SC3 và SC4 (19 loài).

  1. Giá trị tài nguyên và tình trạng bảo tồn:
    • Đánh giá giá trị sử dụng: phân nhóm thành Thực phẩm (TP), Dược liệu (DL), Thương mại (TM) và Sinh thái (ST). Nhiều loài có giá trị kết hợp cả 4 nhóm như Trăn đất, Rắn sọc dưa, Rắn ráo thường, Rắn cạp nia bắc, Rùa đầu to, Rùa sa nhân.
    • Xếp hạng bảo tồn: Ghi nhận nhiều loài nguy cấp theo Sách đỏ Việt Nam 2007 (Trăn đất, Rắn hổ chúa ở cấp CR; Kỳ đà hoa, Rắn ráo thường, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang Trung Quốc, Rắn lá khô thường, Rùa đầu to, Rùa cổ sọc, Rùa núi vàng, Ếch cây Trung Bộ ở cấp EN; Rồng đất, Tắc kè hoa, Thạch sùng Sapa, Rắn sọc dưa, Rắn sọc đuôi khoanh, Ba ba gai, Ba ba trơn, Ếch vạch, Chàng An-đéc-sơn ở cấp VU). Nghị định 32/2006/NĐ-CP ghi nhận 1 loài nhóm IB (Rắn hổ chúa) và 8 loài nhóm IIB. CITES (2015) ghi nhận các loài thuộc Phụ lục II.
  2. Giải pháp quản lý và bảo tồn: Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp: giảm thiểu ảnh hưởng của các mối đe dọa (tăng cường tuần tra, ngăn chặn săn bắt bằng lưới/bẫy/kích điện); bảo tồn các loài nguy cấp, quý hiếm; nâng cao ý thức cộng đồng và phát triển sinh kế thay thế; hoàn thiện hệ thống phối hợp quản lý giữa VQG Ba Vì và chính quyền 16 xã vùng đệm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính:

  • Lập danh lục hoàn chỉnh gồm 90 loài bò sát và lưỡng cư thuộc 22 họ, 3 bộ phân bố tại VQG Ba Vì.
  • Lớp Bò sát chiếm ưu thế tuyệt đối với 65 loài (72,22%), 16 họ; Lớp Lưỡng cư có 25 loài (27,78%), 6 họ.
  • Xác định họ Rắn nước (Colubridae) là họ đa dạng nhất của lớp Bò sát (27 loài, 41,53%), họ Ếch nhái chính thức (Dicroglossidae) đa dạng nhất của lớp Lưỡng cư (9 loài, 36%).
  • Xác định sinh cảnh rừng tự nhiên (SC4) là nơi có mức độ phong phú cao nhất ($S = 16$, $H' = 2,64844$, $D = 0,9161$), đóng vai trò là sinh cảnh then chốt đối với sự cư trú của khu hệ herpetofauna.
  • Thống kê các loài có giá trị bảo tồn cao: 2 loài Rất nguy cấp (CR) và 9 loài Nguy cấp (EN) theo Sách đỏ Việt Nam (2007); 1 loài thuộc nhóm IB và 8 loài thuộc nhóm IIB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Kiểm soát đe dọa: Siết chặt công tác tuần tra rừng, lập chốt kiểm soát lâm sản tại các lối mòn giáp ranh khu dân cư; xử lý nghiêm các hành vi săn bắt thương mại, bẫy bắt rùa, rắn, ếch làm đặc sản.
  • Bảo vệ sinh cảnh: Duy trì tính toàn vẹn của các diện tích rừng tự nhiên trạng thái IIa, IIb, IIIa1, IIIa2; khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các thủy vực ven khe suối, hạn chế ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật từ đất canh tác nông nghiệp.
  • Hỗ trợ sinh kế và giáo dục bảo tồn: Triển khai các mô hình nông - lâm kết hợp, tận dụng các chương trình hỗ trợ của Nhà nước (Chương trình 134, 661) để giải quyết việc làm cho 94% dân cư nông nghiệp; tuyên truyền thay đổi thói quen săn bắt của người dân bản địa (đặc biệt là đồng bào Mường, Dao).
  • Hoàn thiện quy chế quản lý: Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Ban quản lý VQG Ba Vì với Hạt Kiểm lâm và UBND 16 xã thuộc địa bàn Hà Nội và Hòa Bình.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước:

  • Khóa luận đã tiến hành rà soát, chuẩn hóa tên khoa học và phân loại học theo Danh lục Herpetofauna of Viet Nam (2009).
  • Làm rõ cơ sở phân loại học khi loại bỏ 8 loài bị ghi nhận không chính xác trong danh lục của Nguyễn Đình Gươm (2017) và loại bỏ loài Odorrana chloronota, đưa danh lục về con số 90 loài có vùng phân bố tin cậy tại Ba Vì.
  • Bổ sung số liệu định lượng chi tiết về các chỉ số đa dạng toán học ($D, H', E$) và phân tích cấu trúc đa dạng Beta giữa 5 dạng sinh cảnh cụ thể tại khu vực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu được tác giả nêu rõ:

  • Phạm vi khảo sát thực địa mới chỉ bao phủ gần 5% diện tích tự nhiên của VQG Ba Vì, chủ yếu tập trung quanh khu vực xã Tản Lĩnh do hạn chế về nhân lực và nguồn kinh phí.
  • Thời gian khảo sát ngoại nghiệp ngắn (1 tháng, từ 04/03/2018 đến 04/04/2018), chưa theo dõi được biến động thành phần loài qua các mùa khác nhau trong năm.
  • Điều kiện thời tiết bất lợi trong thời gian điều tra thực địa (mưa kéo dài, sương mù dày đặc) gây khó khăn cho việc quan sát trực tiếp và tìm kiếm mẫu vật ngoài tự nhiên.
  • Thời lượng điều tra ban đêm còn hạn chế (19h00 - 22h00), ảnh hưởng trực tiếp đến xác suất bắt gặp các loài lưỡng cư và bò sát có tập tính hoạt động chủ yếu về đêm hoặc ẩn nấp sâu trong hang hốc, khe đá.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi và số lượng tuyến điều tra trên toàn bộ diện tích của VQG Ba Vì, bao gồm các khu vực thuộc huyện Lương Sơn và Kỳ Sơn (Hòa Bình).
  • Tăng cường tần suất và kéo dài thời gian khảo sát ban đêm; thực hiện điều tra định kỳ theo mùa sinh sản và mùa hoạt động của từng nhóm loài.
  • Kết hợp các phương pháp bẫy mẫu chuyên dụng (bẫy hố, bẫy phễu) để thu thập mẫu vật chuẩn xác đối với các loài chui luồn và sống trong thảm mục.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Quản lý Rừng, Khoa học Môi trường, Động vật học và Bảo tồn Đa dạng Sinh học.
  • Nội dung giá trị:
    • Danh lục 90 loài bò sát, lưỡng cư được chuẩn hóa tên khoa học là tài liệu tra cứu trực tiếp cho các đề tài kiểm kê đa dạng sinh học tại khu vực miền Bắc.
    • Bảng tổng hợp số liệu tính toán chỉ số Simpson, Shannon-Weaver và độ đồng đều Pielou trên 5 dạng sinh cảnh là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp định lượng sinh thái học động vật.
    • Báo cáo hiện trạng các loài nguy cấp, quý hiếm có giá trị thực tiễn cao đối với Ban quản lý VQG Ba Vì, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội và Hòa Bình trong công tác lập kế hoạch tuần tra, phân vùng bảo tồn và đánh giá tác động môi trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tổng cộng bao nhiêu loài bò sát và lưỡng cư tại VQG Ba Vì?
Khóa luận ghi nhận tổng số 90 loài thuộc 22 họ và 3 bộ; trong đó lớp Bò sát (Reptilia) có 65 loài (thuộc 16 họ, 2 bộ) và lớp Lưỡng cư (Amphibia) có 25 loài (thuộc 6 họ, 1 bộ).

2. Vì sao tác giả loại bỏ 8 loài trong danh lục của Nguyễn Đình Gươm (2017)?
Tác giả loại bỏ 8 loài (Ô rô gai Acanthosaura crucigera, Nhông phurucôphe Calotes fruhstorferi, Thằn lằn chân ngắn Lygosoma quadrupes, Nhái bầu hoa cương Microhyla marmorata, Nhái bầu trơn Micryletta inornata, Nhái bầu hoa Microhyla fissipes, Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi, Nhái bầu vẽ Microhyla picta) vì các loài này không có vùng phân bố tự nhiên tại Ba Vì và không có mẫu vật lưu trữ chứng minh sự tồn tại tại thực địa.

3. Sinh cảnh nào có mức độ đa dạng bò sát, lưỡng cư cao nhất trong khu vực nghiên cứu?
Sinh cảnh rừng tự nhiên (SC4) có mức độ đa dạng cao nhất với 16 loài quan sát trực tiếp (chiếm 17,77% tổng số loài), đạt chỉ số Shannon-Weaver $H' = 2,64844$, chỉ số Simpson $D = 0,916100$ và độ đồng đều $E = 0,867620$.

4. Có những loài nào tại VQG Ba Vì được xếp vào mức Rất nguy cấp (CR) và Nguy cấp (EN) theo Sách đỏ Việt Nam 2007?

  • Mức Rất nguy cấp (CR): 02 loài gồm Trăn đất (Python molurus) và Rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah).
  • Mức Nguy cấp (EN): 09 loài gồm Kỳ đà hoa (Varanus salvator), Rắn ráo thường (Ptyas korros), Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus), Rắn hổ mang Trung Quốc (Naja atra), Rắn lá khô thường (Sinomicrurus macclellandi), Rùa đầu to (Platysternum megacephalum), Rùa cổ sọc (Ocadia sinensis), Rùa núi vàng (Indotestudo elongata) và Ếch cây Trung Bộ (Rhacophorus annamensis).

5. Những họ nào chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng loài trong khu hệ nghiên cứu?
Ở lớp Bò sát, họ Rắn nước (Colubridae) chiếm ưu thế tuyệt đối với 27 loài (chiếm 41,53% số loài bò sát). Ở lớp Lưỡng cư, họ Ếch nhái chính thức (Dicroglossidae) chiếm ưu thế lớn nhất với 9 loài (chiếm 36% số loài lưỡng cư).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Anh Đức đã hoàn thành việc rà soát, chuẩn hóa và xây dựng danh lục khu hệ bò sát, lưỡng cư tại VQG Ba Vì gồm 90 loài thuộc 22 họ và 3 bộ. Nghiên cứu khẳng định giá trị đa dạng sinh học vượt trội của sinh cảnh rừng tự nhiên thông qua hệ thống chỉ số định lượng sinh thái $D, H', E$, đồng thời xác định rõ 11 loài bị đe dọa nghiêm trọng ở các mức CR và EN. Các giải pháp quản lý, giảm thiểu xung đột sinh kế và siết chặt tuần tra bảo vệ do tác giả đề xuất là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Ba Vì.