Chương 1: Môt số vân đề chung về quyên của người khuyết tật và quy đính của Công ước quốc tế về quyên của người khuyết tat “BLD TBXH 2019), áo cáo đánh giá thuc liện Công tóc về quyên của người Kage tật& Điệt Nem *iSEE and UNDP C017), Xóa bổ ly the: Quam điểm và đánh giá cika người at tật, Nab Trì thức, Hà Nột ` Tổng cục thông kê (2018), Điểu tra quốc gia người khuyết tật Việt Nam nấm 2016 (VDS 2016),Nsb Thong kì ra} Chương 2: Thực trạng nôi luật hoá Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiên pháp luật và nâng cao hiệu quả nôi luật hoá Công ước quốc tế về quyên của người khuyết tật ở Việt Nam 10 CHUONG 1 MỘT SỐ VAN DE CHUNG VE QUYEN CUA NGƯỜI KHUYET TAT VA QUY DINH CUA CONG UGC QUOC TE VE QUYEN CUA NGUOIKHUYET TAT 111. Một số vấn đề chung về quyền của người khuyết tật 1. Quan niệm về quyên của người khuyết tật 1111 Khải niềm người khuyét tật Co nhiều khái niệm về NKT khác nhau được đưa ra với góc độ tiếp cân riêng từ quan niêm vê khuyết tật, tinh trang và mức đô khuyét tật hay cách sử dụng ngôn từ.
nhưng đến nay vẫn chưa có khái niệm thông nhất giữa các quốc gia. Tô chức Y tế thế giới năm 1976 tại Văn kiện A20/INF Doc.13 đưa ra định nghĩa va phân loại ba mức độ gồm: Khiếm khuyết (impairment) là sự mất mát, giảm sút hoặc rối loạn cơ câu tô chức hay một chức năng tâm lý, sinh lý, giải phẫu. Tan tat hay mat khả năng (Disability) la bat ky một sự hạn chế hay thiéu hụt (do khuyết tật) khả năng thực hiện một hoạt động theo chức năng hay trong phạm vi được coi 1a bình thường của con người. Tàn phê (handicap) là sự mất mát, thiệt thoi cho một cá nhân do khuyết tật hoặc do tan tật, khiến cho người đó không thực hiên được một phân hay toàn bô công việc được cơi là bình thường (theo tuổi tác, giới tính, các yêu tô kinh tế, văn hoa, xã hội.
Xu hướng chung hiện nay của các tổ chức quốc tế và nhiêu quốc gia là tranh sử dung những thuật ngữ mang tinh phân biệt, miệt thi và tiêu cực (như dui, qué, cụt, dỡ hơi, điên khủng, dan, thần kính, chập mach, tật nguyên.) hiện còn được sử dung rộng rai, kể cả trong văn bản pháp luật ° Tuyên ngôn về quyên của NKT do Đại hội đông Liên hợp quóc thông qua ngày 9/12/1975, theo Nghi quyết so 3447 XXX, thuật ngữ “NKT” được ® Nguyễn Thi Báo (2006), ‘Tim hiểu khái niém người khuyết tật và quyền của người khuyết tit”, Tạp chế “hoa học Chink nt, Viễn nghiền cm Quyền cạn người, Hoc viên CTQG Ho Chí Mmh,tr 1-3 11 hiểu là bất cứ những người nao ma không có khả năng tư dam bảo cho ban thân, toàn bộ hay từng phan những sư can thiết của một ca nhân bình thường hay của cuộc sóng xã hội do thiếu hụt bam sinh hay không bam sinh trong những kha năng thé chat tâm than của ho. Theo quy tắc tiêu chuẩn của Liên Hợp quéc về bình đẳng hoa các cơ hội cho NKT do Đại hội đồng Liên Hop quốc thông qua ngày 20/12/1993 theo Nghị quyết số (48/06), thuật ngữ “khuyết tật” tóm tắt một số lớn các loại hạn chế chức năng xuất hiện trong bat ky một cộng đông dân cư ở bat ky môt quốc gia nao trên thé giới. Con người có thể bị khuyết tật về thé chat, trí lực hoặc giác quan, các tình trạng bệnh lý hay bệnh tâm thân. Các tinh trạng khuyết tat hoặc bệnh lý, bệnh tật có thể là vinh viễn hoặc tạm thời Khoản 1, Điều 1 Công ước 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc lam của NKT năm 1983 quy định “Người kiuyết tật dùng dé chi môt cá nhân ma kha năng có một việc làm phù hợp, tru lâu đài với công việc đó và thăng tiễn với nó bị giám sát đáng ké do hậu quả của một khiêm kimyất về thé chất và tâm thần được thừa nhậm”.
Theo Điêu 1 CRPD, khái niêm về NKT được quy định như sau: “Người khuyết tat bao gồm những người có Riễm huyết lâu dai về thé chat tâm thần, tri tué hoặc giác quan ma khi tương tác với những rào can khác nham có thé phương hai đến sự tham gia hitu hiệu và tron ven của họ vào đời sông xã hôi trên cơ sở bình đẳng với những người khác ” (Điều 1. Dưa trên khái niệm nay, Công ước yêu câu các quốc gia thành viên phải công nhận sự da dạng của khuyết tật. Cách tiếp cân về khái niệm NKT theo mô hình xã hội trong CRPD phù hợp với các tiêu chí về “tiếp cận” và “điều chỉnh hop li” mà các quốc gia thanh viên can áp dung để đảm bảo xóa bỏ moi “rao can”, “trở ngại” đối với NKT tham gia vào đời sông xã hội trên cơ sở bình đẳng với người khác. Ở Việt Nam, khuyết tật va tan tat là hai khái niêm được sử dung song song trong nhiêu văn bản pháp luật vả trên cả các phương tiên truyền thông đại chúng Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Y chủ biên, NXB 12 Văn hoá — Thông tin, Ha Nôi, 1998: khuyết tật (danh từ) là những sai phạm khó sửa trên sản phẩm (2) tật bẩm sinh, dị tật.
Tan phé (tính từ): bi thương tật nang, mắt khả năng van đông, lao đông bình thường. Nếu theo cách giải thích nay, khái niềm “người khuyết tật:” rông hơn người tan tat ; người tàn phế. Giáo trình "Luật người khuyết tật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm “Wgưởi kimyết tật là người bị khiém khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thé hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến nhiều han chế đáng ké và lâu dai trong việc tham gia của người kimyêt tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với các chủ thé khác ”_7 Luật NKT 2010 (khoản 1, Điều 2) của Việt Nam tiếp cận và định nghĩa chú trọng khiếm khuyết trên góc độ y tế vả không bao gồm tat cả các dạng khuyết tật. “Người kimyết tật là người bị kiuôm khmpết môt hoặc nhiều bộ phâm cơ thê hoặc bị Suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dang tat khiển cho lao đồng sinh hoạt.
học tap gặp khó khăn”. Việc xác đình mức độ khuyết tật được thực hiện bằng “phuong pháp quan sát trực tiếp” người khuyết tật, thông qua thực hiên hoạt đông đơn giản phục vu nhu câu sinh hoạt cá nhân hang ngay, “sử dung bộ câu hỏi theo các tiêu chi về y tễ, xã hôi và các phương pháp đơn giản” dé kết luận mức độ khuyết tật đối với từng người khuyết tật (Điều 17. Phương pháp xác định hạn chế đối với việc phát hiện các dạng khuyét tật khó xác định Trên cơ sở các định nghĩa về NKT nêu trên, tác giả đồng tinh với cách tiếp cân cho rằng những rào can về môi trường xã hôi, định kiến xã hội là nguyên nhân anh hưởng đến việc NKT tiếp cận quyền khi tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hôi. Theo đó, khái niệm NKT có thể hiểu như sau: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bi suy giảm chức năng được biểu hiện đưới dạng tật dẫn đến những han ` Trường Đạihọc Duật Hi Nội (2011), Giáo inh “Luật người Kade tật Vidt Nam", Ned Công nahin din, 21.
13 chế va rào cân khác nhau trong quá trình tham gia vao đời sống xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác. Co thé thay, khái niém về NKT trong Luật NKT và CRPD có một số khác biệt do đó có thé dẫn đến các kết quả khác nhau trong giải thích pháp luật. Trong khi khái niệm NKT của Việt Nam chỉ nhân mạnh đến khiếm khuyết về mặt y tế mà chưa quan tâm đúng mức đến khó khăn do tiếp cận dịch vụ công hay tham gia các hoạt động x4 hội thi khái niệm của CRPD đưa chứa đựng những tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ NKT toàn diện, nhân mạnh đến sự tương tác giữa khuyết tat va trở ngại bên ngoải làm hạn ché khả năng tham gia đây đủ vào đời sông xã hôi, đặt mục tiêu xoá bỏ các rao cản đó trên cơ sở bình đẳng với người khác Khái niệm của CRPD cũng bao ham tat cả các dang khuyết tật, áp dụng chung cho tat cả những người khiêm khuyết “lau đải” về thể chất, tâm thân, trí tuệ và giác quan nhưng yêu cau nay lại không được quy định trong pháp luât Việt Nam Luật Người khuyết tật của Việt Nam mới chỉ quy định ba loại khuyết tật được quy định trong CRPD khi bd sung khuyết tật nhìn va than kinh và quy định điều khoản bao trùm (các dạng khuyết tat khác) .Š Đặc điểm của người khuyết tật Đặc điểm về thé chất: NKT là những người bị tổn thương về cơ thé hoặc rồi loạn các chức năng nhất định khiến cho sinh hoạt, lao động, hoc tập gặp nhiều khó khăn, đặc điểm thé chat của NKT có ảnh hưởng rat lớn đến quá trình can thiệp, trợ giúp cho đối tương này. Đặc điểm về tâm sinh j} của NKT: Do mặc cảm ban thân 1a người bỏ di, là gánh năng cho gia đinh/người thân nên ho dễ tư ai, dé bị kích đông, chan nản, thiểu tự in Trong quá trình tương tác xã hội, thái đô kỳ thi hay hành vi phân biệt đối xử từ những người xung quanh với ho, khiến ho nay * Đinh Thi Cim Hi (2015), “Công wic của Liên Hợp quốc về quyền của NET vi sựtiếp nhin trong phúp trật Việt Nam’? Tạp chi Nghién cứu lập pháp, (1),tr 9-13 14 sinh tâm lý hoài nghỉ vé giá trị bản thân, thiéu tin tưởng, có thái độ tiêu cực, ngại giao tiếp với mọi người.
Ngược lại, có trường hợp bản thân NKT giảu nghị lực, kiên tri vượt lên khiếm khuyết thân thể, định kiến xã hội đạt thành tích cao trong hoc tập và lao động. Đặc điễm và trí tué: tri tué của NKT nói chung giảm sút tùy theo dang tật, nên kha năng tư duy rat hạn chế (do sô lượng cảm giác, tri giác giảm làm ảnh hưởng tới đô chính xác của hình ảnh, sự vat, hiện tượng), tư duy tru tương kém, nghèo nản (do thiếu ngôn ngữ ở người điếc bẩm sinh, người bị thiểu năng trí tuệ.) Đặc điểm về nhu cầu cña NET. NKT có những nhu cầu như mọi người khác va cũng có những nhu câu riêng. Trước hết là nhu câu về thể chất (ăn, mặc, ở): bảo dam chế độ dinh dưỡng hợp ly là nhu cầu rat quan trong, la cơ sở cho họ tôn tai va phát triển về thé chất.