Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật và nội luật hoá trong pháp luật Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Phùng Thị Hồng Oanh (lớp K20BCQ071), dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Thị Dung tại Bộ môn Luật Lao động và An sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội (tháng 12/2023).

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 15% dân số thế giới (tương đương hơn 1 tỷ người) đang sống với ít nhất một dạng khuyết tật. Báo cáo năm 2011 của WHO và Ngân hàng Thế giới (World Bank) chỉ ra rằng người khuyết tật (NKT) là nhóm dễ bị tổn thương nhất, chiếm 20% tổng số người nghèo toàn cầu và khoảng 80% sinh sống tại các quốc gia đang phát triển. Trong bối cảnh quốc tế chuyển dịch nhận thức từ quan điểm xem NKT là đối tượng nhận trợ cấp y tế, từ thiện sang mô hình xã hội dựa trên quyền con người, Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật (CRPD) đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 2006.

Việt Nam ký kết CRPD vào tháng 10/2007 và chính thức phê chuẩn ngày 28/11/2014 mà không bảo lưu bất kỳ điều khoản nào. Nhằm nội luật hóa cam kết quốc tế, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Người khuyết tật ngày 17/6/2010. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy vẫn tồn tại những khoảng trống pháp lý nhất định giữa hệ thống pháp luật quốc gia và chuẩn mực CRPD, đòi hỏi việc nghiên cứu hệ thống nhằm hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền của NKT.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận chung về quyền của NKT theo chuẩn mực CRPD, phân tích thực trạng nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu một số vấn đề chung về quyền của NKT và quy định của Công ước quốc tế về quyền của NKT.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng nội luật hoá Công ước quốc tế về quyền của NKT trong pháp luật Việt Nam.
  3. Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả nội luật hoá Công ước quốc tế về quyền của NKT ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của CRPD và thực trạng nội luật hóa các quy định của Công ước trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Phân tích 7 nhóm quyền cơ bản gồm quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử; quyền được bảo vệ và bảo đảm các quyền nhân thân; quyền tiếp cận thông tin và tiếp nhận giáo dục; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền lao động, việc làm; quyền được hưởng mức sống thích đáng và bảo trợ xã hội; quyền tham gia vào các lĩnh vực đời sống.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi tại Việt Nam từ khi Luật Người khuyết tật năm 2010 có hiệu lực đến năm 2023, dựa trên các số liệu và báo cáo thống kê giai đoạn 2011–2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên cách tiếp cận quyền con người (Human Rights-Based Approach) và mô hình xã hội về khuyết tật (Social Model of Disability), xem khuyết tật là kết quả của sự tương tác giữa khiếm khuyết cơ thể với các rào cản xã hội và môi trường. Tác giả đối chiếu các định nghĩa lịch sử của WHO (1976) về khiếm khuyết (impairment), tàn tật (disability), tàn phế (handicap); Tuyên ngôn về quyền của NKT năm 1975 (Nghị quyết 3447 XXX); Quy tắc tiêu chuẩn của Liên Hợp Quốc năm 1993 (Nghị quyết 48/96); Công ước 159 của ILO năm 1983; Điều 1 của CRPD và Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010.

Hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở nghiên cứu gồm:

  • Văn kiện quốc tế: Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế 1948 (UDHR), Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), Công ước về Quyền Trẻ em 1989 (CRC), Công ước CEDAW, Chiến lược Incheon về khuôn khổ hành động thiên niên kỷ Biwako.
  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi 2001) và Hiến pháp năm 2013 (Điều 14, 16, 19, 20, 23, 34, 59, 61); Luật Người khuyết tật 2010; Bộ luật Lao động 2019; Bộ luật Dân sự 2015; Bộ luật Hình sự 2015; Luật Giáo dục 2019; Luật Tiếp cận thông tin 2016; Luật Công nghệ thông tin 2006; Luật Giao thông đường bộ 2008; Luật Cư trú; Thông tư 21/2014/TT-BXD; Thông tư 03/2018/TT-BGDĐT; Nghị định 144/2013/NĐ-CP; Nghị định 72/2013/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trên nền tảng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp tiếp cận dựa trên quyền của NKT: Đánh giá việc bảo đảm quyền từ góc độ gia đình, cộng đồng, chính quyền và cơ sở cung cấp dịch vụ.
  • Phương pháp tổng quan tài liệu: Rà soát các ấn phẩm chuyên khảo, đề tài luận án, luận văn và báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu từng điều khoản giữa CRPD và văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam để nhận diện khoảng trống lập pháp.
  • Phương pháp chứng minh: Dẫn chứng số liệu thực nghiệm từ các cuộc điều tra quốc gia để luận giải cho các kết luận pháp lý.
  • Phương pháp tổng hợp và dự báo khoa học: Khái quát hóa thực trạng và xây dựng kiến nghị sửa đổi quy định.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ phân tích bao gồm:

  • Điều tra quốc gia người khuyết tật năm 2016 (VDS 2016) do Tổng cục Thống kê và UNICEF công bố ngày 11/01/2019.
  • Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Người khuyết tật 2010 (Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật Việt Nam - VPUBQGNKTVN và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2022).
  • Báo cáo đánh giá thực hiện Công ước CRPD tại Việt Nam (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2019).
  • Báo cáo "Xóa bỏ kỳ thị: Quan điểm và đánh giá của người khuyết tật" của Viện iSEE và UNDP (2017).
  • Kết quả khảo sát thực tế NKT tại 10 tỉnh thành của VPUBQGNKTVN năm 2021.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về quyền của người khuyết tật và quy định của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

Chương 1 hệ thống hóa lý luận về khuyết tật và quyền của NKT dựa trên 4 nhóm đặc điểm: thể chất (tổn thương chức năng), tâm sinh lý (dễ tự ti, mặc cảm do định kiến), trí tuệ (suy giảm nhận thức tùy dạng tật) và nhu cầu (dinh dưỡng, phục hồi chức năng, hỗ trợ giao tiếp, hòa nhập xã hội).

Về mặt khái niệm, tác giả chỉ ra điểm khác biệt cốt lõi: Điều 1 CRPD định nghĩa NKT theo mô hình tương tác xã hội ("khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào đời sống xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác"), bao quát các khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan. Trong khi đó, Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010 tiếp cận chủ yếu theo khiếm khuyết y tế ("bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng... khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn"), đồng thời Điều 17 xác định mức độ tật chủ yếu qua phương pháp quan sát trực tiếp và bộ câu hỏi đơn giản, chưa đánh giá đầy đủ tác động từ rào cản môi trường.

Về cơ sở thực tiễn, số liệu thống kê tại Việt Nam khẳng định tính cấp thiết của việc bảo đảm quyền:

Chỉ số thống kê về người khuyết tật tại Việt Nam Giá trị ghi nhận Nguồn dữ liệu
Số lượng NKT từ 2 tuổi trở lên Hơn 6,2 triệu người (chiếm 7,06% dân số) VDS 2016 / Tổng cục Thống kê (2019)
Tỷ lệ dân số sống chung trong hộ có NKT 13% (gần 12 triệu người) VDS 2016 / Tổng cục Thống kê (2019)
Số lượng NKT được cấp giấy xác nhận khuyết tật Trên 3 triệu người (tính đến cuối năm 2022) Báo cáo UBQGNKT (2022)
Tỷ lệ NKT tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng khi ốm/thương 2,3% VDS 2016 / Tổng cục Thống kê (2019)

Chương 1 cũng phân tích lịch sử hình thành CRPD từ Năm quốc tế NKT (1981), Chương trình hành động (1982), Quy tắc tiêu chuẩn (1993) đến khi được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 03/12/2006. Tác giả phân tích sâu 8 nguyên tắc chủ đạo của CRPD (Điều 3):

  1. Tôn trọng phẩm giá vốn có, sự tự chủ cá nhân và sự độc lập của cá nhân.
  2. Không phân biệt đối xử.
  3. Sự tham gia và hòa nhập xã hội đầy đủ, hiệu quả.
  4. Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận NKT là một phần của sự đa dạng nhân loại.
  5. Bình đẳng về cơ hội.
  6. Tiếp cận.
  7. Bình đẳng giữa nam và nữ.
  8. Tôn trọng khả năng đang phát triển của trẻ em khuyết tật và tôn trọng quyền bảo vệ nhân dạng của trẻ em khuyết tật.

Chương 2: Thực trạng nội luật hoá Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam

Chương 2 phân tích đặc điểm quá trình lập pháp: Việt Nam ban hành Luật Người khuyết tật năm 2010 trước khi chính thức phê chuẩn CRPD vào năm 2014, thể hiện nỗ lực chủ động nội luật hóa nhằm chuẩn bị điều kiện tương thích. Thực trạng từng nhóm quyền được phân tích cụ thể:

Quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử: Hiến pháp 2013 ghi nhận nguyên tắc bình đẳng tại Điều 16 và quyền an sinh xã hội tại Điều 34. Luật Người khuyết tật 2010 cụ thể hóa tại Điều 4 và Điều 14. Tuy nhiên, khái niệm "phân biệt đối xử" trong Luật Người khuyết tật mới tập trung vào hành vi trực tiếp của cá nhân (xa lánh, từ chối, ngược đãi, định kiến), chưa bao quát phân biệt đối xử gián tiếp và hành vi từ phía tổ chức, đồng thời thiếu chế tài xử phạt đủ tính răn đe.

Khảo sát của VPUBQGNKTVN (2021) tại 10 tỉnh cho thấy chuyển biến nhận thức sau 10 năm thi hành luật:

Tiêu chí đánh giá nhận thức và vị thế NKT Tỷ lệ NKT đồng thuận Tỷ lệ cán bộ khẳng định
Xã hội nhìn nhận tích cực, đúng mức hơn 74,0% -
Cảm nhận được tôn trọng hơn Gần 70,0% -
Cảm nhận được bình đẳng với người không khuyết tật Gần 58,0% -
Xã hội đánh giá đúng năng lực và khả năng đóng góp Gần 37,0% -
Vị thế, tiếng nói của NKT được nâng cao tại địa phương - 87,5%
Sự hòa nhập xã hội của NKT được cải thiện đáng kể - 88,8%

Quyền nhân thân: Được bảo đảm thông qua Điều 19 Hiến pháp 2013 (quyền sống), Điều 20 (bất khả xâm phạm thân thể), Điều 23 (tự do đi lại, cư trú); Bộ luật Dân sự 2015; Luật Cư trú; Khoản 6 Điều 14 Luật Người khuyết tật 2010 (nghiêm cấm cản trở kết hôn, nuôi con).

Quyền sống độc lập và hòa nhập cộng đồng: Quy định tại Điều 19 CRPD, Điều 4 Luật Người khuyết tật và Thông tư 21/2014/TT-BXD. Thực tế giai đoạn 2011–2020: 1.073 NKT được hỗ trợ dụng cụ tiện ích giao thông, 46.624 lượt NKT được giảm giá vé xe, cấp 40.608 thẻ xe buýt miễn phí. Dù vậy, tỷ lệ tiếp cận công trình xây dựng còn chênh lệch lớn: NKT tiếp cận thuận lợi nhất ở cơ sở y tế và trụ sở cơ quan nhà nước, trong khi cơ sở giáo dục nghề nghiệp và công trình văn hóa - thể thao có tỷ lệ tiếp cận rất thấp do chi phí cải tạo cao và thiếu chế tài xử lý công trình vi phạm quy chuẩn.

Quyền tiếp cận thông tin và giáo dục:

  • Về thông tin: Khảo sát tại 10 tỉnh ghi nhận gần 10% NKT hoàn toàn chưa tiếp cận được thông tin chính sách, pháp luật. Nguyên nhân chính là do điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu phương tiện nghe nhìn (tivi, đài, internet, điện thoại thông minh), thiếu tài liệu in ấn và thiếu sự phổ biến từ cán bộ cơ sở.
  • Về giáo dục: Giáo dục hòa nhập là mô hình chủ đạo (Điều 30 Luật Người khuyết tật; Thông tư 03/2018/TT-BGDĐT). Hệ thống hỗ trợ giáo dục đã thiết lập tại 21 tỉnh thành với 107 cơ sở giáo dục chuyên biệt và 12 trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật. Số trẻ em khuyết tật đi học tăng 10 lần trong hai thập kỷ.
Chỉ số tiếp cận giáo dục của người khuyết tật Tỷ lệ ghi nhận (%) Nguồn dữ liệu
Tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp tiểu học 88,7% VDS 2016 / Tổng cục Thống kê (2018)
Tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp THPT 33,6% VDS 2016 / Tổng cục Thống kê (2018)
Trẻ khuyết tật theo học tại các trường học thông thường 94,2% Báo cáo Bộ GDĐT (2019)
Trẻ khuyết tật (5-14 tuổi) thuộc hộ nghèo tham gia giáo dục hòa nhập 21,0% Điều tra UNICEF (2018)

Bất cập pháp lý nổi cộm là Luật Người khuyết tật quy định trách nhiệm cơ sở giáo dục bảo đảm điều kiện dạy học còn chung chung, chưa cụ thể hóa nghĩa vụ "điều chỉnh hợp lý" (reasonable accommodation). Chế tài xử phạt theo Nghị định 144/2013/NĐ-CP chưa xử lý được các hành vi từ chối gián tiếp (lấy lý do vượt chỉ tiêu, thiếu giáo viên hỗ trợ hoặc thiếu tài liệu).

Quyền chăm sóc sức khỏe, việc làm và an sinh xã hội: Tiếp cận dịch vụ y tế và bảo trợ xã hội có bước tiến nhờ cấp thẻ BHYT miễn phí cho NKT diện hộ nghèo, trợ cấp xã hội hằng tháng, nhưng cơ hội phục hồi chức năng và tiếp cận việc làm bền vững còn nhiều rào cản.

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả nội luật hoá Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam

Chương 3 trình bày các định hướng và nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Chuyển dịch triệt để tư duy pháp lý từ trợ cấp từ thiện sang bảo đảm quyền con người; hài hòa hóa khái niệm và tiêu chuẩn kỹ thuật với CRPD.
  • Kiến nghị hoàn thiện Luật Người khuyết tật năm 2010:
    1. Mở rộng khái niệm NKT theo hướng mô hình xã hội, bổ sung đầy đủ các dạng khuyết tật và tiêu chí rào cản môi trường.
    2. Bổ sung định nghĩa và cơ chế xử lý phân biệt đối xử gián tiếp; quy định rõ trách nhiệm pháp lý của tổ chức, pháp nhân.
    3. Thể chế hóa nguyên tắc "điều chỉnh hợp lý" như một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc trong các lĩnh vực giáo dục, việc làm, xây dựng và giao thông.
    4. Bổ sung chế tài xử phạt hành chính nghiêm minh đối với các chủ đầu tư không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật tiếp cận công trình.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:
    1. Bố trí nguồn ngân sách thỏa đáng cho các đề án hỗ trợ tiếp cận giao thông, hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin.
    2. Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật nhân quyền và kỹ năng hỗ trợ NKT cho cán bộ tư pháp, trợ giúp viên pháp lý, giáo viên và nhân viên y tế.
    3. Hoàn thiện hệ thống thu thập dữ liệu thống kê chuyên sâu về NKT phục vụ hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả thực chứng, khóa luận tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh tình trạng bảo đảm quyền NKT tại Việt Nam: 7,06% dân số là NKT; hơn 3 triệu NKT được cấp giấy xác nhận; tỷ lệ đi học tiểu học đạt 88,7% nhưng THPT giảm xuống 33,6%; trẻ khuyết tật trong hộ nghèo tham gia giáo dục hòa nhập chỉ đạt 21%; tỷ lệ NKT tiếp cận phục hồi chức năng đạt mức thấp 2,3%.

Về giải pháp, tác giả chỉ ra các điểm nghẽn lập pháp then chốt và đề xuất phương án sửa đổi Luật Người khuyết tật 2010 gắn liền với các điều ước quốc tế, trọng tâm là luật hóa nguyên tắc "điều chỉnh hợp lý" và mở rộng phạm vi xử lý phân biệt đối xử gián tiếp.

Về đóng góp so với các công trình trước: Tác giả tự đánh giá trong phần tổng quan rằng phần lớn các tài liệu hiện hành nghiên cứu quyền của NKT dưới góc độ an sinh xã hội đơn lẻ hoặc đánh giá so sánh sơ lược từng điều khoản. Chưa có nhiều công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về toàn bộ tiến trình nội luật hóa CRPD gắn với hệ thống số liệu điều tra quốc gia quy mô lớn (VDS 2016, Báo cáo 10 năm thi hành Luật NKT năm 2022). Khóa luận đã lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này bằng góc nhìn pháp lý kết hợp dữ liệu xã hội học thực chứng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số giới hạn do chính tác giả và phạm vi nghiên cứu chỉ ra:

  • Hạn chế thời gian và nguồn lực: Trong Lời cảm ơn, tác giả thừa nhận do giới hạn thời gian làm khóa luận nên việc khảo sát thực tế và bao quát toàn bộ các văn bản dưới luật chuyên ngành còn có những thiếu sót nhất định.
  • Hạn chế về phạm vi số liệu: Dữ liệu thực chứng chủ yếu dựa trên các báo cáo thứ cấp giai đoạn 2011–2022 (VDS 2016, khảo sát 10 tỉnh năm 2021), chưa có điều kiện triển khai khảo sát sơ cấp trên diện rộng toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đào sâu nghiên cứu cơ chế bồi thường thiệt hại và trách nhiệm dân sự đối với hành vi phân biệt đối xử gián tiếp; đánh giá tác động kinh tế - tài chính của việc bắt buộc áp dụng quy chuẩn thiết kế phổ cập đối với doanh nghiệp tư nhân.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Lao động, Luật An sinh xã hội, Luật Nhân quyền; các nhà nghiên cứu chính sách an sinh xã hội; cán bộ thuộc các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội), các tổ chức xã hội vì NKT.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phần phân tích, đối chiếu 8 nguyên tắc chủ đạo của CRPD với các văn bản pháp luật hiện hành tại Chương 1.
    • Ma trận so sánh định nghĩa NKT giữa Điều 1 CRPD và Điều 2 Luật Người khuyết tật 2010.
    • Hệ thống dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ tiếp cận giáo dục, giao thông và công trình xây dựng được trích lọc từ các báo cáo quốc gia giai đoạn 2016–2022.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm người khuyết tật trong Luật Người khuyết tật 2010 khác biệt như thế nào so với quy định của CRPD?
Luật Người khuyết tật 2010 định nghĩa NKT dựa trên mô hình khiếm khuyết y tế, xem xét tình trạng suy giảm chức năng bộ phận cơ thể gây khó khăn trong sinh hoạt, lao động, học tập. Ngược lại, Điều 1 CRPD định nghĩa NKT dựa trên mô hình xã hội, nhấn mạnh rằng sự khuyết tật xuất hiện khi các khiếm khuyết lâu dài tương tác với các rào cản bên ngoài làm cản trở sự tham gia đầy đủ, bình đẳng của họ vào xã hội.

2. Nhận định của người khuyết tật về mức độ tôn trọng và quan tâm của xã hội sau 10 năm thi hành Luật Người khuyết tật 2010 đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát NKT tại 10 tỉnh của VPUBQGNKTVN (2021), 74% NKT nhận xét xã hội nhìn nhận họ tích cực và đúng mức hơn; gần 70% cảm nhận được tôn trọng hơn; gần 58% cảm nhận có sự bình đẳng với người không khuyết tật; và gần 37% khẳng định xã hội đánh giá đúng năng lực, khả năng đóng góp của NKT.

3. Số liệu trong khóa luận phản ánh thực trạng chênh lệch trong tiếp cận giáo dục của trẻ em khuyết tật như thế nào?
Số liệu VDS 2016 cho thấy tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp tiểu học của trẻ em khuyết tật đạt 88,7%, nhưng đến cấp THPT giảm mạnh chỉ còn 33,6%. Ngoài ra, dù 94,2% trẻ khuyết tật học tại trường thông thường, tỷ lệ tham gia giáo dục hòa nhập của trẻ 5–14 tuổi thuộc các hộ gia đình nghèo chỉ đạt 21%.

4. Khóa luận ghi nhận kết quả hỗ trợ người khuyết tật trong lĩnh vực giao thông công cộng giai đoạn 2011–2020 bằng những con số nào?
Trong giai đoạn 2011–2020, cả nước đã hỗ trợ dụng cụ tiện ích và tham gia giao thông cho hơn 1.073 NKT, thực hiện 46.624 lượt giảm giá vé và cấp 40.608 thẻ xe buýt miễn phí cho NKT.

5. Khóa luận đề xuất nội dung sửa đổi trọng tâm nào đối với Luật Người khuyết tật năm 2010?
Tác giả đề xuất sửa đổi định nghĩa NKT theo mô hình xã hội của CRPD, bổ sung khái niệm và chế tài xử lý phân biệt đối xử gián tiếp, đồng thời luật hóa nguyên tắc "điều chỉnh hợp lý" thành nghĩa vụ bắt buộc của cơ quan, tổ chức trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo nghề, tuyển dụng lao động và xây dựng công trình công cộng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Phùng Thị Hồng Oanh đã hệ thống hóa toàn diện các chuẩn mực quốc tế về quyền của người khuyết tật theo Công ước CRPD và đối chiếu sâu sắc với hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích quy phạm với dữ liệu điều tra thực chứng giai đoạn 2011–2022, tác giả đã làm rõ các thành tựu lập pháp cũng như những khoảng trống cơ bản trong Luật Người khuyết tật năm 2010. Các giải pháp hoàn thiện được đề xuất trong công trình là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho công tác nghiên cứu lập pháp và hoạch định chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.