Công ước Quốc tế về Quyền của Người Khuyết tật và Nội luật hóa trong Pháp luật Việt Nam

Khóa luận phân tích công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật và quá trình nội luật hóa tại Việt Nam, nêu rõ thách thức và giải pháp.

Chuyên ngành

Luật Lao động và An sinh xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

98
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1. Một số vấn đề chung về quyền của người khuyết tật

1.2. Quan niệm về quyền của người khuyết tật

1.3. Cơ sở quy định quyền của người khuyết tật

1.4. Quy định của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

1.4.1. Lịch sử hình thành Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

1.4.2. Mục đích và ý nghĩa của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

1.4.3. Nội dung mang tính quốc tế về quyền của người khuyết tật

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỘI LUẬT HÓA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

2.1. Thực trạng nội luật hóa quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử của người khuyết tật

2.2. Quyền không bị phân biệt đối xử

2.3. Thực trạng nội luật hóa quyền được bảo vệ, bảo đảm các quyền nhân thân

2.4. Quyền được bảo đảm an ninh cá nhân và sự riêng tư, quyền được tôn trọng

2.5. Quyền do lựa chọn quốc tịch và nơi sinh sống

2.6. Quyền được sống độc lập và hòa nhập cộng đồng

2.7. Thực trạng nội luật hóa quyền tiếp cận thông tin và tiếp nhận giáo dục của người khuyết tật

2.8. Quyền tự do và quyền tự do tiếp cận tiếng nói

2.9. Quyền được giáo dục

2.10. Thực trạng nội luật hóa quyền được chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật

2.11. Thực trạng nội luật hóa quyền lao động, việc làm của người khuyết tật

2.12. Thực trạng nội luật hóa quyền được hưởng mức sống thích đáng và bảo trợ xã hội của người khuyết tật

2.13. Thực trạng nội luật hóa quyền tham gia vào các lĩnh vực của người khuyết tật

2.14. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NỘI LUẬT HÓA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

3.1. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

3.2. Yêu cầu của việc hoàn thiện luật Việt Nam theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện luật Việt Nam theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả nội luật hóa Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam

3.5. Kết luận chương 3

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Công ước Quốc tế về Quyền của Người Khuyết tật

Công ước Quốc tế về Quyền của Người Khuyết tật (CRPD) là một văn kiện quan trọng nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi của người khuyết tật trên toàn cầu. Công ước này được thông qua bởi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào năm 2006 và có hiệu lực từ năm 2008. Mục tiêu chính của CRPD là đảm bảo rằng người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ và bình đẳng vào đời sống xã hội, kinh tế và văn hóa. Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn Công ước này, thể hiện cam kết của quốc gia trong việc bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật.

1.1. Ý nghĩa của Công ước Quốc tế về Quyền của Người Khuyết tật

Công ước CRPD không chỉ là một văn bản pháp lý mà còn là một công cụ mạnh mẽ để nâng cao nhận thức về quyền của người khuyết tật. Nó khuyến khích các quốc gia xây dựng chính sách và pháp luật phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật, từ đó tạo ra một xã hội công bằng hơn.

1.2. Các nguyên tắc cơ bản của Công ước CRPD

Công ước CRPD dựa trên các nguyên tắc như tôn trọng quyền con người, không phân biệt đối xử, sự tham gia và hòa nhập xã hội. Những nguyên tắc này là nền tảng cho việc xây dựng các chính sách và chương trình hỗ trợ người khuyết tật tại các quốc gia thành viên.

II. Thực trạng nội luật hóa quyền của người khuyết tật tại Việt Nam

Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc nội luật hóa các quy định của Công ước CRPD. Luật Người khuyết tật được ban hành vào năm 2010 đã tạo ra khung pháp lý cho việc bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực thi và đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

2.1. Những thành tựu trong việc nội luật hóa quyền của người khuyết tật

Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách và văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật, như Luật Người khuyết tật và các nghị định hướng dẫn thi hành. Những chính sách này đã góp phần nâng cao nhận thức và tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia vào các hoạt động xã hội.

2.2. Những thách thức trong việc thực thi quyền của người khuyết tật

Mặc dù đã có nhiều chính sách, nhưng việc thực thi quyền của người khuyết tật vẫn gặp nhiều khó khăn. Các rào cản về tâm lý xã hội, cơ sở hạ tầng chưa thân thiện và thiếu sự hỗ trợ từ cộng đồng là những vấn đề cần được giải quyết.

III. Phương pháp giải quyết vấn đề quyền của người khuyết tật

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người khuyết tật, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng và cải thiện cơ sở hạ tầng là những yếu tố quan trọng.

3.1. Tăng cường giáo dục và đào tạo cho người khuyết tật

Giáo dục là chìa khóa để người khuyết tật có thể hòa nhập và phát triển. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp để giúp họ có thể tiếp cận với kiến thức và kỹ năng cần thiết.

3.2. Cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ

Cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng để đảm bảo rằng người khuyết tật có thể tiếp cận các dịch vụ công cộng, như giao thông, y tế và giáo dục. Điều này sẽ giúp họ tham gia tích cực hơn vào đời sống xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền của người khuyết tật

Nghiên cứu về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực nhưng cũng không thiếu những vấn đề cần khắc phục. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc thực hiện quyền của người khuyết tật vẫn còn nhiều hạn chế.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng người khuyết tật vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Các chính sách hiện hành cần được điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tế.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác

Việt Nam có thể học hỏi từ các quốc gia khác trong việc thực hiện quyền của người khuyết tật. Các mô hình thành công từ nước ngoài có thể được áp dụng để cải thiện tình hình trong nước.

V. Kết luận và tương lai của quyền của người khuyết tật tại Việt Nam

Việc bảo vệ quyền của người khuyết tật tại Việt Nam đang trên đà phát triển, nhưng vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa. Tương lai của quyền của người khuyết tật phụ thuộc vào sự cam kết của chính phủ và toàn xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của sự cam kết từ chính phủ

Chính phủ cần tiếp tục cam kết thực hiện các chính sách và pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật. Điều này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho họ phát triển.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ quyền của người khuyết tật

Cộng đồng cần nâng cao nhận thức và tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia vào các hoạt động xã hội. Sự hỗ trợ từ cộng đồng là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật và nội luật hoá trong pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Môt số vân đề chung về quyên của người khuyết tật và quy đính của Công ước quốc tế về quyên của người khuyết tat “BLD TBXH 2019), áo cáo đánh giá thuc liện Công tóc về quyên của người Kage tật& Điệt Nem *iSEE and UNDP C017), Xóa bổ ly the: Quam điểm và đánh giá cika người at tật, Nab Trì thức, Hà Nột ` Tổng cục thông kê (2018), Điểu tra quốc gia người khuyết tật Việt Nam nấm 2016 (VDS 2016),Nsb Thong kì ra} Chương 2: Thực trạng nôi luật hoá Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiên pháp luật và nâng cao hiệu quả nôi luật hoá Công ước quốc tế về quyên của người khuyết tật ở Việt Nam 10 CHUONG 1 MỘT SỐ VAN DE CHUNG VE QUYEN CUA NGƯỜI KHUYET TAT VA QUY DINH CUA CONG UGC QUOC TE VE QUYEN CUA NGUOIKHUYET TAT 111. Một số vấn đề chung về quyền của người khuyết tật 1. Quan niệm về quyên của người khuyết tật 1111 Khải niềm người khuyét tật Co nhiều khái niệm về NKT khác nhau được đưa ra với góc độ tiếp cân riêng từ quan niêm vê khuyết tật, tinh trang và mức đô khuyét tật hay cách sử dụng ngôn từ.

nhưng đến nay vẫn chưa có khái niệm thông nhất giữa các quốc gia. Tô chức Y tế thế giới năm 1976 tại Văn kiện A20/INF Doc.13 đưa ra định nghĩa va phân loại ba mức độ gồm: Khiếm khuyết (impairment) là sự mất mát, giảm sút hoặc rối loạn cơ câu tô chức hay một chức năng tâm lý, sinh lý, giải phẫu. Tan tat hay mat khả năng (Disability) la bat ky một sự hạn chế hay thiéu hụt (do khuyết tật) khả năng thực hiện một hoạt động theo chức năng hay trong phạm vi được coi 1a bình thường của con người. Tàn phê (handicap) là sự mất mát, thiệt thoi cho một cá nhân do khuyết tật hoặc do tan tật, khiến cho người đó không thực hiên được một phân hay toàn bô công việc được cơi là bình thường (theo tuổi tác, giới tính, các yêu tô kinh tế, văn hoa, xã hội.

Xu hướng chung hiện nay của các tổ chức quốc tế và nhiêu quốc gia là tranh sử dung những thuật ngữ mang tinh phân biệt, miệt thi và tiêu cực (như dui, qué, cụt, dỡ hơi, điên khủng, dan, thần kính, chập mach, tật nguyên.) hiện còn được sử dung rộng rai, kể cả trong văn bản pháp luật ° Tuyên ngôn về quyên của NKT do Đại hội đông Liên hợp quóc thông qua ngày 9/12/1975, theo Nghi quyết so 3447 XXX, thuật ngữ “NKT” được ® Nguyễn Thi Báo (2006), ‘Tim hiểu khái niém người khuyết tật và quyền của người khuyết tit”, Tạp chế “hoa học Chink nt, Viễn nghiền cm Quyền cạn người, Hoc viên CTQG Ho Chí Mmh,tr 1-3 11 hiểu là bất cứ những người nao ma không có khả năng tư dam bảo cho ban thân, toàn bộ hay từng phan những sư can thiết của một ca nhân bình thường hay của cuộc sóng xã hội do thiếu hụt bam sinh hay không bam sinh trong những kha năng thé chat tâm than của ho. Theo quy tắc tiêu chuẩn của Liên Hợp quéc về bình đẳng hoa các cơ hội cho NKT do Đại hội đồng Liên Hop quốc thông qua ngày 20/12/1993 theo Nghị quyết số (48/06), thuật ngữ “khuyết tật” tóm tắt một số lớn các loại hạn chế chức năng xuất hiện trong bat ky một cộng đông dân cư ở bat ky môt quốc gia nao trên thé giới. Con người có thể bị khuyết tật về thé chat, trí lực hoặc giác quan, các tình trạng bệnh lý hay bệnh tâm thân. Các tinh trạng khuyết tat hoặc bệnh lý, bệnh tật có thể là vinh viễn hoặc tạm thời Khoản 1, Điều 1 Công ước 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc lam của NKT năm 1983 quy định “Người kiuyết tật dùng dé chi môt cá nhân ma kha năng có một việc làm phù hợp, tru lâu đài với công việc đó và thăng tiễn với nó bị giám sát đáng ké do hậu quả của một khiêm kimyất về thé chất và tâm thần được thừa nhậm”.

Theo Điêu 1 CRPD, khái niêm về NKT được quy định như sau: “Người khuyết tat bao gồm những người có Riễm huyết lâu dai về thé chat tâm thần, tri tué hoặc giác quan ma khi tương tác với những rào can khác nham có thé phương hai đến sự tham gia hitu hiệu và tron ven của họ vào đời sông xã hôi trên cơ sở bình đẳng với những người khác ” (Điều 1. Dưa trên khái niệm nay, Công ước yêu câu các quốc gia thành viên phải công nhận sự da dạng của khuyết tật. Cách tiếp cân về khái niệm NKT theo mô hình xã hội trong CRPD phù hợp với các tiêu chí về “tiếp cận” và “điều chỉnh hop li” mà các quốc gia thanh viên can áp dung để đảm bảo xóa bỏ moi “rao can”, “trở ngại” đối với NKT tham gia vào đời sông xã hội trên cơ sở bình đẳng với người khác. Ở Việt Nam, khuyết tật va tan tat là hai khái niêm được sử dung song song trong nhiêu văn bản pháp luật vả trên cả các phương tiên truyền thông đại chúng Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Y chủ biên, NXB 12 Văn hoá — Thông tin, Ha Nôi, 1998: khuyết tật (danh từ) là những sai phạm khó sửa trên sản phẩm (2) tật bẩm sinh, dị tật.

Tan phé (tính từ): bi thương tật nang, mắt khả năng van đông, lao đông bình thường. Nếu theo cách giải thích nay, khái niềm “người khuyết tật:” rông hơn người tan tat ; người tàn phế. Giáo trình "Luật người khuyết tật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm “Wgưởi kimyết tật là người bị khiém khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thé hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến nhiều han chế đáng ké và lâu dai trong việc tham gia của người kimyêt tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với các chủ thé khác ”_7 Luật NKT 2010 (khoản 1, Điều 2) của Việt Nam tiếp cận và định nghĩa chú trọng khiếm khuyết trên góc độ y tế vả không bao gồm tat cả các dạng khuyết tật. “Người kimyết tật là người bị kiuôm khmpết môt hoặc nhiều bộ phâm cơ thê hoặc bị Suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dang tat khiển cho lao đồng sinh hoạt.

học tap gặp khó khăn”. Việc xác đình mức độ khuyết tật được thực hiện bằng “phuong pháp quan sát trực tiếp” người khuyết tật, thông qua thực hiên hoạt đông đơn giản phục vu nhu câu sinh hoạt cá nhân hang ngay, “sử dung bộ câu hỏi theo các tiêu chi về y tễ, xã hôi và các phương pháp đơn giản” dé kết luận mức độ khuyết tật đối với từng người khuyết tật (Điều 17. Phương pháp xác định hạn chế đối với việc phát hiện các dạng khuyét tật khó xác định Trên cơ sở các định nghĩa về NKT nêu trên, tác giả đồng tinh với cách tiếp cân cho rằng những rào can về môi trường xã hôi, định kiến xã hội là nguyên nhân anh hưởng đến việc NKT tiếp cận quyền khi tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hôi. Theo đó, khái niệm NKT có thể hiểu như sau: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bi suy giảm chức năng được biểu hiện đưới dạng tật dẫn đến những han ` Trường Đạihọc Duật Hi Nội (2011), Giáo inh “Luật người Kade tật Vidt Nam", Ned Công nahin din, 21.

13 chế va rào cân khác nhau trong quá trình tham gia vao đời sống xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác. Co thé thay, khái niém về NKT trong Luật NKT và CRPD có một số khác biệt do đó có thé dẫn đến các kết quả khác nhau trong giải thích pháp luật. Trong khi khái niệm NKT của Việt Nam chỉ nhân mạnh đến khiếm khuyết về mặt y tế mà chưa quan tâm đúng mức đến khó khăn do tiếp cận dịch vụ công hay tham gia các hoạt động x4 hội thi khái niệm của CRPD đưa chứa đựng những tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ NKT toàn diện, nhân mạnh đến sự tương tác giữa khuyết tat va trở ngại bên ngoải làm hạn ché khả năng tham gia đây đủ vào đời sông xã hôi, đặt mục tiêu xoá bỏ các rao cản đó trên cơ sở bình đẳng với người khác Khái niệm của CRPD cũng bao ham tat cả các dang khuyết tật, áp dụng chung cho tat cả những người khiêm khuyết “lau đải” về thể chất, tâm thân, trí tuệ và giác quan nhưng yêu cau nay lại không được quy định trong pháp luât Việt Nam Luật Người khuyết tật của Việt Nam mới chỉ quy định ba loại khuyết tật được quy định trong CRPD khi bd sung khuyết tật nhìn va than kinh và quy định điều khoản bao trùm (các dạng khuyết tat khác) .Š Đặc điểm của người khuyết tật Đặc điểm về thé chất: NKT là những người bị tổn thương về cơ thé hoặc rồi loạn các chức năng nhất định khiến cho sinh hoạt, lao động, hoc tập gặp nhiều khó khăn, đặc điểm thé chat của NKT có ảnh hưởng rat lớn đến quá trình can thiệp, trợ giúp cho đối tương này. Đặc điểm về tâm sinh j} của NKT: Do mặc cảm ban thân 1a người bỏ di, là gánh năng cho gia đinh/người thân nên ho dễ tư ai, dé bị kích đông, chan nản, thiểu tự in Trong quá trình tương tác xã hội, thái đô kỳ thi hay hành vi phân biệt đối xử từ những người xung quanh với ho, khiến ho nay * Đinh Thi Cim Hi (2015), “Công wic của Liên Hợp quốc về quyền của NET vi sựtiếp nhin trong phúp trật Việt Nam’? Tạp chi Nghién cứu lập pháp, (1),tr 9-13 14 sinh tâm lý hoài nghỉ vé giá trị bản thân, thiéu tin tưởng, có thái độ tiêu cực, ngại giao tiếp với mọi người.

Ngược lại, có trường hợp bản thân NKT giảu nghị lực, kiên tri vượt lên khiếm khuyết thân thể, định kiến xã hội đạt thành tích cao trong hoc tập và lao động. Đặc điễm và trí tué: tri tué của NKT nói chung giảm sút tùy theo dang tật, nên kha năng tư duy rat hạn chế (do sô lượng cảm giác, tri giác giảm làm ảnh hưởng tới đô chính xác của hình ảnh, sự vat, hiện tượng), tư duy tru tương kém, nghèo nản (do thiếu ngôn ngữ ở người điếc bẩm sinh, người bị thiểu năng trí tuệ.) Đặc điểm về nhu cầu cña NET. NKT có những nhu cầu như mọi người khác va cũng có những nhu câu riêng. Trước hết là nhu câu về thể chất (ăn, mặc, ở): bảo dam chế độ dinh dưỡng hợp ly là nhu cầu rat quan trong, la cơ sở cho họ tôn tai va phát triển về thé chất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Công ước Quốc tế về Quyền của Người Khuyết tật là một văn bản quan trọng nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi của người khuyết tật trên toàn cầu. Tại Việt Nam, việc nội luật hóa công ước này không chỉ thể hiện cam kết của chính phủ trong việc bảo đảm quyền lợi cho người khuyết tật mà còn tạo ra một khung pháp lý vững chắc để hỗ trợ họ trong cuộc sống hàng ngày. Những điểm chính của công ước bao gồm quyền được tiếp cận, quyền tham gia xã hội, và quyền được chăm sóc sức khỏe. Điều này mang lại nhiều lợi ích cho người khuyết tật, giúp họ hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Để tìm hiểu sâu hơn về các chính sách và thực trạng liên quan đến người khuyết tật tại Việt Nam, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Phù Mỹ tỉnh Bình Định giai đoạn 2024-2030, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các chính sách hỗ trợ xã hội cho người khuyết tật. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thực trạng về chăm sóc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật, giúp bạn nắm bắt được các phương pháp chăm sóc và phục hồi chức năng hiệu quả. Cuối cùng, tài liệu Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quyền lợi pháp lý của người khuyết tật trong hệ thống an sinh xã hội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến người khuyết tật tại Việt Nam.