phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động Chƣơng 2: Hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động và các yếu tố ảnh hƣởng tại thành phố Thanh Hóa. Chƣơng 3: Đề xuất khuyến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động tại thành phố Thanh Hóa. 14 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1. Lý luận về Trẻ em khuyết tật vận động 1.
Khái niệm * Khái niệm trẻ em Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc nhƣ Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là ngƣời dƣới 15 tuổi. Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ƣớc này, trẻ em có nghĩa là dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi sớm hơn”. Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi vận dụng khái niệm trẻ em theo Luật Trẻ em vừa đƣợc kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 5/4/2016 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2017. Tại điều 1 của Luật trẻ định nghĩa rằng “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Luật trẻ em, 2016).
* Khái niệm trẻ em khuyết tật Trẻ khuyết tật là những đứa trẻ bị tổn thƣơng về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học tập, vui chơi và lao động. * Khái niệm khuyết tật vận động Khuyết tật vận động là một trong những dạng khuyết tật rất phổ biến. Đó là tình trạng giảm hoặc mất chức năng đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. 15 Trẻ khuyết tật vận động là những trẻ do các nguyên nhân khác nhau, gây ra sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, sinh hoạt và học tập… Trẻ khuyết tật vận động gồm có hai dạng: Trẻ khuyết tật vận động do chấn thƣơng nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm què cụt, khoèo, liệt chân tay.
Trẻ em khuyết tật vận động do tổn thƣơng trung khu vận động não bộ. Đối với dạng thứ nhất thì những trẻ này vẫn có một bộ máy sinh học bình thƣờng làm cơ sở vật chất thực hiện hoạt động nhận thức. Nói cách khác, khi trẻ có khiếm khuyết đơn thuần về vận động thì trẻ hoàn toàn có khả năng nhận thức nhƣ những trẻ bình thƣờng khác. Tuy nhiên, sự phát triển hoạt động nhận thức của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tham gia các hoạt động trong môi trƣờng xung quanh.
Trẻ khuyết tật vận động khó đạt đƣợc trình độ nhận thức cũng nhƣ những trải nghiệm nhƣ mọi trẻ bình thƣờng khác. Chẳng hạn, trẻ không thể có cảm giác mỏi chân nếu trẻ bại liệt đôi chân không thể đi đƣợc, không thể leo trèo đƣợc thì khó có cảm giác về độ cao và kĩ năng lấy thăng bằng của cơ thể, không có cảm giác về sức đẩy của nƣớc nếu không đƣợc ngâm mình trong nƣớc… Đối với dạng thứ hai thì sự tổn thƣơng về não bộ gây rất nhiều cản trở cho hoạt động nhận thức của trẻ, thậm chí là trình độ nhận thức ở mức độ nặng. Hoạt động nhận thức của loại trẻ này cũng có những hạn chế tƣơng tự nhƣ trẻ chậm phát triển trí tuệ và còn bị ảnh hƣởng thêm của khuyết tật vận động. Song cũng cần lƣu ý những trƣờng hợp khuyết tật vận động do bại não gây nên thì hoạt động nhận thức của trẻ hầu nhƣ không bị ảnh hƣởng song trẻ khó có thể biểu đạt đƣợc suy nghĩ, hành động, lời nói một cách bình thƣờng do sự cản trở của khuyết tật vận động.
Đặc điểm tâm lý 16 Trẻ em khuyết tật vận động dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng. Ngoài ra TKTVĐ thƣờng có tâm lý mặc cảm tự ti. Luôn cho rằng số phận mình không đƣợc may mắn, là gánh nặng cho ngƣời thân, gia đình. Do đó họ thƣờng sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi ngƣời.
Trong quá trình tƣơng tác với ngƣời khác trong gia đình, cộng đồng họ thƣờng có cảm xúc buồn, thất vọng và hay tự ái. Nếu sống trong những gia đình khó khăn thƣờng NKT có cảm giác bị bỏ rơi. Biểu hiện qua nhận thức: Trẻ em khuyết tật vận động cho rằng mình mình bị ngƣời khác coi thƣờng, thiếu tôn trọng, không thừa nhận họ, nhận thức bị bóp méo, xuyên tạc, không phản ánh hiện thực khách quan. Ngƣời khuyết tật vận động thấy mình là nạn nhân của các dịch vụ không thể tiếp cận đƣợc, của sự phân biệt hơn là làm chủ bản thân và ít khi quyết định đƣợc vận mệnh của mình.
Ngƣời khuyết tật vận động có mặc cảm không nhận thức đƣợc nhu cầu đích thực của mình là gì, không biết mình thực sự là ai, nhìn mình và ngƣời khác có chiều hƣớng tiêu cực. Mọi tình huống trong xã hội, họ bị cản trở về đi lại nên cảm thấy mình thua thiệt, bất hạnh và cô đơn. Biểu hiện qua xúc cảm: Tình cảm luôn cảm thấy mình thua thiệt và bất hạnh, luôn cảm giác mình là gánh nặng của gia đình và xã hội, có những dự đoán bi quan và luôn sống trong sợ hãi. Khi có những khó khăn trong việc đi lại, tiếp cận giao thông hay công trình công cộng đều có tƣ tƣởng đổ lỗi hoặc đi từ cảm xúc oán trách này đến oán trách khác Biểu hiện qua hành vi 17 Không phát huy khả năng của bản thân, có thể dẫn đến hủy hoại bản thân, ngại giao tiếp, chỉ thích ngồi, ngại đi lại, sợ đám đông, trong mối quan hệ xã hội thấy rõ sự thua kém.
Khi ở trong hoàn cảnh khó khăn, các em thƣờng có những phản ứng nhƣ: Thƣờng ở trong tâm trạng lo lắng, sợ hãi Hay nhớ lại những sự kiện bạo lực, những hình ảnh xấu Thƣờng tự ti, mặc cảm và né tránh giao tiếp khiến trẻ khó tạo lập mối quan hệ xã hội Dễ có giá trị, suy nghĩ, hay nhận định sai lệch Dễ có những hành vi chống đối nhƣ ăn cắp, lừa dối. và cho đó là cách thức để tồn tại. Thƣờng hay cáu giận, bực tức Khó khăn trong hoà nhập với môi trƣờng xung quanh Dễ có xung đột với bố mẹ, anh chị em, ông bà. trong gia đình Hay có cảm giác cô đơn, bị mọi ngƣời xa lánh Dễ có nghi ngờ những ngƣời xung quanh Tinh thần bị suy sụp do mất mát, tổn thƣơng trẻ phải trải qua.
Chính vì vậy tham vấn và giúp cho trẻ và gia đình trẻ trong hoàn cảnh khó khăn lại càng trở nên cần thiết với nhóm trẻ có nguy cơ cao. Nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động Mọi trẻ em sinh ra và lớn lên trong xã hội loài ngƣời đều có những nhu cầu cơ bản về cơ thể, sự an toàn (Bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow) và những khả năng nhất định (thuyết đa năng lực của Gardner). TKT cũng có nhu cầu cơ bản và khả năng nhất định. Tuy ở những mức độ khác nhau so với trẻ em bình thƣờng, đầu tiên có thể kể đến những nhu cầu cơ bản: Nhu cầu cơ thể ( ăn, uống, ngủ…), nhu cầu cảm giác an toàn, nhu cầu cảm giác tiếp xúc, 18 nhu cầu về đồ vật… đƣợc thể hiện bằng tiếng khóc, tiếng bập bẹ, tiếng cƣời, ánh mắt, cử động của cơ thể.
Mỗi trẻ là một bức tranh hết sức đa dạng, phong phú về nhân cách, chúng có khả năng, nhu cầu và sở thích riêng, có cách thể hiện riêng. Đƣợc tham gia vào các hoạt động trong môi trƣờng hòa nhập tại cộng đồng, xã hội, nhà trƣờng và gia đình thì trẻ khuyết tật mới có cơ hội đƣợc bộc lộ, thể hiện một cách đầy đủ và rõ nét nhất khả năng và nhu cầu của mình. Đồng thời, đó cũng chính là cách giảm thiểu đƣợc những ảnh hƣởng bất lợi của khuyết tật đối với các chức năng hoạt động cơ thể khác và không làm xuất hiện “khuyết tật thứ hai” của trẻ. Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động 1.
Các khái niệm Khái niệm công tác xã hội Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010): Công tác xã hội được xem là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [17, tr. Theo IFSW và IASSW (2011): Công tác xã hội được xem như một là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống. Từ những khái niệm và phân tích trên tôi đƣa ra khái niệm nhƣ sau: 19 CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế nâng cao năng lực, tăng cường các chức năng xã hội nhằm ứng phó với những vấn đề xã hội tiêu cực xảy ra từ đó hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Khái niệm công tác xã hội cá nhân Công tác xã hội cá nhân (trong tiếng Anh là Case Work hay Working with individuals). Theo Charle Zastrow (2003): CTXH cá nhân là phƣơng pháp của CTXH thông qua mối quan hệ tƣơng tác 1-1 giữa NVXH với cá nhân thân chủ nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi (kinh tế - xã hội) của môi trƣờng, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tƣơng tác với môi trƣờng.