Đặt vấn đề Hiện nay, ùn tắc giao thông đang là vấn đề chung, nan giải của các thành phố lớn ở nƣớc ta, đặc biệt là ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ùn tắc giao thông không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn kéo theo nhiều hậu quả xã hội nghiêm trọng. Các cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắng đề ra các giải pháp chống ùn tắc. Từ các giải pháp kỹ thuật nhƣ phân làn đƣờng, bịt các ngã tƣ, tăng cƣờng cảnh sát chỉ huy ở các nút giao thông hay bị ùn tắc đến giải pháp tận dụng sức mạnh cộng đồng nhƣ thực hiện chƣơng trình VOV giao thông, tăng cƣờng giáo dục, tuyên truyền, kêu gọi ý thức của ngƣời tham gia giao thông.
Tuy nhiên, do mật độ tham gia giao thông quá lớn, cơ sở hạng tầng không đủ đáp ứng đƣợc, một phần ý thức của ngƣời tham gia giao thông chƣa cao, nên các biện pháp đề ra chƣa mang lại hiệu quả nhƣ mong muốn. Thực tế, hiện tƣợng ùn tắc chỉ thƣờng xuyên xảy ra ở một số điểm cố định, ở các tuyến đƣờng trọng điểm, có nhiều phƣơng tiện lƣu thông vào các giờ cao điểm. Nếu chúng ta có cách thông báo cho ngƣời tham gia giao thông biết trƣớc đƣợc đoạn đƣờng nào đang bị ùn tắc và có nguy cơ bị ùn tắc thì hoàn toàn có thể làm giảm đƣợc số điểm ùn tắc đang xảy ra trên các tuyến đƣờng. Trong thời gian qua, chƣơng trình VOV giao thông của đài tiếng nói Việt Nam đã ra đời và nhận đƣợc sự hƣởng ứng tích cực của ngƣời dân.
Cách làm của chƣơng trình VOV giao thông đó là cùng với ngƣời tham gia giao thông và các cộng tác viên tại các điểm hay xảy ra ùn tắc phát hiện và thông báo kịp thời tình trạng giao thông qua làn sóng radio. Tuy nhiên, nhƣợc điểm của VOV giao thông là do sử dụng chƣơng trình phát thanh nên thông tin chỉ đến đƣợc với số ít ngƣời tham gia giao thông, thông tin đƣợc truyền tải dƣới dạng âm thanh nên ít trực quan, giảm bớt tính hiệu quả của thông tin. Hƣớng đến cách tiếp cận khác đó là thông qua môi trƣờng Internet và các thiết bị di động, cùng với các chức năng, nhiệm vụ của GIS tôi đã chọn đề tài khóa luận “Nghiên cứu công nghệ WebGIS và xây dựng Website hỗ trợ cung cấp thông -1- tin giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Bài toán đƣợc giải quyết chủ yếu dựa vào dịch vụ Google Maps API và các thiết bị di động sử dụng dịch vụ này.
Google Maps là dịch vụ đã phổ biến trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Ở các thành phố lớn trên thế giới, Google Maps có tích hợp thông tin giao thông vào bản đồ ở chế độ Traffic View, ngƣời tham gia giao thông sử dụng các thiết bị di động có tích hợp Google Maps hoàn toàn có thể biết trƣớc đƣợc những thông tin ùn tắc trên các tuyến đƣờng mà họ sắp đi qua. Tuy nhiên, ở Việt Nam, dịch vụ này chƣa đƣợc hỗ trợ cũng nhƣ chƣa có dịch vụ nào tƣơng tự. Vì thế với hi vọng hỗ trợ phần nào cho thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nƣớc nói chung trong việc giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông, tôi sẽ cố gắng hoàn thành thật tốt khóa luận tốt nghiệp của mình.
Giới hạn của đề tài Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên đề tài chỉ tìm hiểu và xây dựng một trang WEBGIS cơ bản phục vụ cho mục đích chủ yếu đƣợc nêu ra của đề tài. Giới hạn về phạm vi khu vực nghiên cứu: Các tuyến đƣờng trọng điểm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu của đề tài Tìm hiểu công nghệ WebGIS và cách xây dựng nên một trang WebGIS. Tìm hiểu dịch vụ Google Maps API, sử dụng Google Maps nhƣ bản đồ nền của trang WebGIS.
Tìm hiểu ngôn ngữ lập trình ASP.NET (C#) và Javascript, cũng nhƣ phần mềm Microsoft SQL Server hỗ trợ xây dựng các chức năng và giao diện cho trang WebGIS. Xây dựng WebGIS hoàn chỉnh với các chức năng chính nhằm đƣa ra một số giải pháp bổ sung, khả thi cùng với các phƣơng tiện khác nhƣ VOV giao thông, đƣa thông tin giao thông đến cho ngƣời sử dụng Internet di động, từ đó làm giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông ở thành phố Hồ Chí Minh nhƣ hiện nay. Hƣớng tiếp cận của đề tài Giải pháp đƣa ra ở đây là khi ngƣời tham giao lƣu thông trên các tuyến đƣờng sẽ trực tiếp cập nhật tình trạng giao thông hiện tại mà họ đang gặp phải lên trang WebGIS nhƣ ùn tắc, phƣơng tiện di chuyển chậm với các lý do cụ thể nhƣ do có tai -2- nạn giao thông, hay do ảnh hƣởng của thời tiết (mƣa, thủy triều dâng,…), các công trƣờng, công trình đang thi công,… Khi những ngƣời tham gia giao thông phía sau bằng phƣơng tiện thông tin cá nhân của mình họ có thể cập nhật đƣợc những tình trạng trên, từ đó có thể tránh đi những tuyến đƣờng đang ùn tắc mà họ sắp đi qua bằng cách chuyển qua một lộ trình mới thông thoáng hơn. Từ đó những tuyến đƣờng đang bị ùn tắc sẽ giảm đƣợc lƣợng phƣơng tiện giao thông và sớm giải quyết đƣợc tình trạng ùn tắc hiện tại.
Khu vực nghiên cứu 2. Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, quan trọng của nƣớc ta. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích là 2. Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dƣơng, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đƣờng bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đƣờng chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đƣờng bộ, đƣờng thủy và đƣờng hàng không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực: Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hƣng, huyện Củ Chi. Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi.
Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ. Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ. -4- Việt Nam TP.1: Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh 2. Khí hậu, thời tiết Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mƣa – khô rõ rệt.
Mùa mƣa đƣợc bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình 27°C, cao nhất lên tới 40°C, thấp nhất xuống 13,8°C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình từ 25 đến 28°C. Lƣợng mƣa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.
Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mƣa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 -5- tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lƣợng mƣa phân bố không đều, khuynh hƣớng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lƣợng mƣa cao hơn khu vực còn lại. Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hƣởng bởi hai hƣớng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc.
Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dƣơng, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mƣa. Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô. Ngoài ra còn có gió tín phong theo hƣớng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão.
Cũng nhƣ lƣợng mƣa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mƣa (80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%). Bình quân độ ẩm không khí đạt 79,5%/năm.2: Khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh 2. Kinh tế - Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhƣng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nƣớc ngoài.
Năm 2012, GDP đạt khoảng 9,2%, trong đó khu vực dịch vụ đạt khoảng 10,8%, công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 9,2%, nông lâm và thủy sản đạt 5%. GDP bình quân đầu ngƣời đạt 3. Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính. Ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1%.
Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%. -6- Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp,.
gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế. Năm 2011, dân số toàn thành phố Hồ Chí Minh đạt gần 7.100 ngƣời với diện tích 2095,6 km2, mật độ dân số đạt 3589 ngƣời/km². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 6.700 ngƣời, dân số sống tại nông thôn đạt 1. Sự phân bố dân cƣ ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều.
Trong khi một số quận nhƣ 4, 5 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 ngƣời/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ có mật độ tƣơng đối thấp 98 ngƣời/km². Những năm gần đây dân số các quận trung tâm có xu hƣớng giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh do tiếp nhận ngƣời dân từ trung tâm chuyển ra và ngƣời nhập cƣ từ các tỉnh đến sinh sống. Giao thông vận tải Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Khác với Hà Nội, vận tải thủy ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ quan trọng.