Chương 1: Tổng quan về các công nghệ nhận dạng- chương này giới thiệu sơ lược về các công nghệ nhận dạng đã và đang được sử dụng như mã vạch, nhận dạng bằng ký tự quang, nhận dạng vân tay…, đồng thời cũng trình bày các ưu nhược điểm của các hệ thống này để quá đó thấy được ưu điểm vượt trội của công nghệ RFID. Chương 2: Công nghệ RFID- chương này tập trung trình bày các vấn đề liên quan đến RFID như: RFID là gì, hoạt động như thế nào, phân loại hệ thống RFID, giao thức và phương thức bảo mật, tần số được sử dụng và các quy định cần quan tâm khi thiết kế hệ thống RFID. Tuy nhiên, RFID là một công nghệ nên đi kèm với nó là rất nhiều vấn đề liên quan, trong khuôn khổ luận văn tốp nghiệp em chỉ xin giới thiệu một số vấn đề chính để có thể có được cái nhìn khái quát nhất về RFID. Chương 3: Thiết kế hệ thống RFID chủ động hoạt động ở tần số 433MHz- chương này tôi dành để giới thiệu về IC thu phát cao tần ADF7020-1, vi điều khiển 16 Atmega88 và tính toán, thiết kế hệ thống RFID chủ động (gồm đầu đọc và thẻ) hoạt động ở tần số 433MHz dựa trên việc sử dụng kết hợp hai IC này.
Chương 4: Ứng dụng RFID trong quản lý khách sạn - chương này trình bày việc ứng dụng hệ thống RFID thiết kế trong chương trước vào việc quản lý khách sạn. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ NHẬN DẠNG TỰ ĐỘNG Chương đầu này được dành để giới thiệu tổng quan về các công nghệ nhận dạng tự động được sử dụng trên thế giới. Từ công nghệ nhận dạng đã chiếm vị trí “thống tri” trong một thời gian dài như mã vạch tới các công nghệ cao như nhận dạng vân tay, giọng nói và cuối cùng là công nghệ RFID sẽ được lần lượt trình bày trong chương này. Một sự so sánh mang tính tổng kết cũng sẽ được trình bày ở phần cuối của chương.1 Mã vạch (Barcode) Mã vạch đã giữ vị trí thống trị của nó so với các hệ thống nhận dạng khác trong vòng hơn 20 năm qua.
Người ta đã thống kê rằng tổng doanh thu của của hệ thống mã vạch vào đầu những năm 1990 là khoảng 3 tỷ đô la Mỹ. Mã vạch là một loại mã nhị phân bao gồm một trường các vạch (bar) và các khe hở (gap) được sắp xếp song song với nhau. Chúng được sắp xếp theo các mẫu xác định trước và thể hiện các phần tử dữ liệu tương ứng với các ký tự. Chuỗi hình được tạo ra từ các vạch rộng – hẹp, các khe hở có thể được hiểu dưới dạng số hoặc dạng chữ số (alphanumerical).
Mã vạch có thể được đọc bởi các máy quét laze bằng cách phát hiện sự khác nhau của chùm tia laze phản xạ từ các vạch màu đen và các khe hở màu trắng. Tuy nhiên, mặc dù đồng dạng về thiết kế vật lý, vẫn có sự khác biệt đáng kể về mặt sắp xếp mã trong khoảng 10 loại mã vạch khác nhau đang được sử dụng ngày nay. Mã vạch thông dụng nhất là mã EAN (European Article Number), nó được thiết kế một cách chuyên biệt để đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp thực phẩm vào năm 1976. Mã vạch EVN là một sự phát triển của mã UPC (Universal Product Code), đã được giới thiệu ở Mỹ vào đầu năm 1973.
Ngày nay, mã UPC là tập con của mã EVN do đó nó hoàn toàn tương thích với mã EVN. Mã EVN được tạo ra từ 13 chữ số, gồm : mã nhận diện quốc gia, mã nhận diện công ty, số hiệu của sản phẩm và một số dùng để kiểm tra mã (Hình 1. 18 Ngoài mã EVN, còn có các mã thông dụng trong các lĩnh vực khác nhau như (hình 1.3): - Mã Codabar: sử dụng trong ngành dược phẩm và y tế; trong các lĩnh vực yêu cầu độ an toàn cao. - Mã 2/5 xen kẽ: sử dụng trong công nghiệp tự động hóa, lưu trữ hàng hóa, các công-tê-nơ vận chuyển hàng và ngành công nghiệp nặng.
- Mã 39: sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, trong các trường học và thư viện. 1 Cấu trúc mã vạch EVN [2] Hình 1. 2 Mã vạch ghi mã số sách (ISBN)[2] 1.2 Nhận dạng ký tự quang học (OCR) Nhận dạng ký tự quang học (OCR-Optical character recognition) được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1960. Một loại phông chữ đặc biệt đã được phát triển riêng cho ứng dụng này, chúng đã được biến điệu để có thể được đọc theo cách thông thường bởi con người hoặc được đọc tự động bởi máy.
Một ưu điểm quan trọng nhất của hệ thống mã OCR là lưu trữ được thông tin với mật độ cao và khả năng đọc bằng mắt thường trong 19 trường hợp dự phòng (hoặc đơn giản là để kiểm tra). Ngày nay, mã OCR được sử dụng trong ngành sản xuất, dịch vụ, trong lĩnh vực hành chính hay trong lĩnh vực ngân hàng (như sử dụng trong tờ sec: các dữ liệu cá nhân như tên, số tài khoản được in trên tờ séc dưới dạng mã OCR ). 3 Phông chữ OCR [2] Tuy nhiên, mã OCR có một nhược điểm dẫn đến chúng không được sử dụng rộng rãi là giá thành cao và đầu đọc phức tạp.3 Phương pháp sinh trắc học (Biometric) Sinh trắc học (Biometric) được đinh nghĩa là ngành khoa học tính toán và đo đạc các đặc tính của cơ thể sống. Khi xét về khía cạnh nhận dạng, sinh trắc học là khái niệm chung cho tất cả các phương pháp nhận dạng con người bằng cách so sánh những đặc điểm vật lý riêng biệt không thể nhầm lẫn của các cá nhân khác nhau.
Trong thực tế, có các phương pháp sinh trắc học là: nhận dạng vân tay, nhận dạng giọng nói, nhận dạng võng mạc.1 Nhận dạng giọng nói Gần đây, đã có các hệ thống chuyên dụng nhận dạng người bằng giọng nói. Trong hệ thống như vậy, người sử dụng (người cần được nhận dạng) nói vào một micorophone được kết nối với máy tính. Thiết bị này sẽ chuyển đổi giọng nói thành tín hiệu số, sau đó tín hiệu số sẽ được phân tích bởi một phần mềm nhận dạng. Mục đích của nhận dạng bằng giọng nói là kiểm tra nhận dạng của một người dựa trên giọng nói của người đó.
Điều này đạt được bằng cách kiểm tra đặc tính giọng nói dựa vào các mẫu tham chiếu có sẵn.2 Nhận dạng vân tay Ngành tội phạm học đã sử dụng phương pháp nhận dạng vân tay để nhận dạng tội phạm từ đầu thế kỷ XX. Quá trình này dựa trên sự so sánh các nhú và các đường vân trên đầu ngón tay, được thực hiện không chỉ trực tiếp trên các ngón tay mà còn có thể thông qua các đồ vật mà người cần nhận dạng chạm vào (ví dụ nhận dạng đối tượng nghi vấn thông qua các dấu vân tay thu được từ hiện trường các vụ án). Khi nhận dạng vân tay được sử dụng cho nhận người, thường trong các thủ tục nhận dạng ra vào cửa, đầu ngón tay của người cần nhận dạng phải được đặt trên một đầu đọc chuyên dụng. Hệ thống sẽ tính toán dữ liệu thu được từ mẫu vân tay đọc được và so sánh nó với các mẫu tham chiếu được lưu trữ.
Các hệ thống nhận dạng vân tay hiện đại yêu cầu ít hơn nửa giây để nhận dạng một vân tay. Để chống lại sự giả mạo, hệ thống nhận dạng vân tay thậm chí còn được phát triển để có thể phát hiện được ngón tay đang đặt trên đầu đọc có phải là của người đang sống hay không. 4 Vân tay và các đặc điểm dùng để nhận dạng[2] 1.4 Thẻ thông minh (Smart card) Thẻ thông minh (smart card) là thiết bị điện tử có khả năng lưu trữ dữ liệu và có thể có khả năng tính toán (như thẻ chíp- microprocessor card), thường được gắn vào trong các thẻ plastic có kích thước bằng thẻ tín dụng. Thẻ thông minh dưới dạng thẻ điện thoại trả trước được đưa ra vào năm 1984.
Thẻ thông minh được đặt vào một đầu đọc, đầu đọc tạo ra một kết nối điện với các điểm tiếp xúc của thẻ. Thẻ được cung cấp năng lượng và xung nhịp từ đầu đọc thông qua các điểm tiếp xúc (điểm tiếp điện). Dữ liệu 21 truyền giữa đầu đọc và thẻ sử dụng giao diện nối tiếp hai chiều (cổng vào/ra). Có thể phân biệt hai loại cơ bản của thẻ thông minh dựa trên chức năng của chúng: thẻ nhớ (memory card) và thẻ chíp (microprocessor card).
Một trong những ưu điểm chính của thẻ thông minh là dữ liệu lưu trữ có thể được bảo vệ chống lại các truy nhập không mong muốn. Thẻ thông minh làm cho tất cả các dịch vụ liên quan đến thông tin, các giao dịch tài chính trở nên đơn giản hơn, an toàn và chi phí rẻ hơn. Vì lý do đó, khoảng 200 triệu thẻ thông minh đã được phát hành trên toàn thế giới vào năm 1992. Năm 1995 con số đó đã tăng lên 600 triệu trong đó 500 triệu thẻ nhớ và 100 triệu thẻ chíp.
Vì vậy, thị trương thẻ thông minh thể hiện là thị trường lớn mạnh nhanh nhất trong ngành công nghiệp vi điện tử. Một nhược điểm của thẻ thông minh là tính dễ hỏng do các tiếp xúc điện trên thẻ dễ bị mòn hoặc bẩn. Đầu đọc được sử dụng thường tốn nhiều chi phí bảo dưỡng do nó hay bị lỗi. Thêm vào đó, những đầu đọc cho phép truy cập công cộng (như box điện thoại thẻ) không được bảo vệ chống lại các hành động phá hoại.1 Thẻ nhớ (memory card) Trong thẻ nhớ, bộ nhớ- thường là một eeprom- được truy cập bằng việc sử dụng logic tuần tự (máy trạng thái) (hình 1.
Nó cũng có thể được kết hợp với một thuật toán bảo mật, như thuật toán mã hóa luồng. Chức năng của thẻ nhớ thường được tối ưu hóa cho các ứng dụng riêng biệt. Tính mềm dẻo của thẻ nhớ là cực kỳ hạn chế nhưng đổi lại nó rất hiệu quả về kinh tế. Vì lý do đó, thẻ nhớ chủ yếu được sử dụng trong các ứng dụng nhạy cảm về giá thành và cho phép kích thước lớn.Một ví dụ của ứng dụng này là thẻ bảo hiểm được sử dụng cho việc thanh toán tiền trợ cấp hưu trí ở nước Đức.
5 Kiến trúc điển hình của thẻ nhớ [ 2] 1.2 Thẻ chíp (microprocessor card) Như gợi ý của tên thẻ, thẻ chíp bao gồm một chíp được nối với các bộ nhớ (RAM. ROM được ghi sẵn kết hợp với một hệ điều hành cho chíp được cài vào chíp trong quá trình sản xuất. Nội dụng của ROM được xác định trong quá trình chế tạo, giống nhau cho tất cả các thẻ chíp của cùng một loại sản phẩm và giá trị của nó không thể ghi đè.