Mở đầu Mạng viễn thông thường được cấu thành bởi 3 mạng chính: mạng đường trục, mạng phía khách hàng và mạng truy nhập. Trong những năm gần đây, mạng đường trục có những bước phát triển nhảy vọt do sự xuất hiện của các công nghệ mới, như công nghệ ghép kênh theo bước sóng (WDM), tuy nhiên mạng truy nhập ít có sự thay đổi. Cũng trong khoảng thời gian này, mạng nội hạt (LAN) cũng đã được cải tiến và nâng cấp từ tốc độ 10Mb/s lên 100Mb/s, và đến 1Gb/s. Thậm chí, các sản phẩm Ethernet 10Gb/s cũng đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường.
Điều này đã dẫn đến một sự chênh lệch rất lớn về băng thông giữa một bên là mạng LAN tốc độ cao và mạng đường trục và một bên là mạng truy nhập tốc độ thấp, dẫn đến hiện tượng nút cổ chai (bottleneck) trong mạng viễn thông. Việc bùng nổ lưu lượng Internet trong thời gian vừa qua càng làm trầm trọng thêm các vấn đề của mạng truy nhập tốc độ thấp. Theo hầu hết các báo cáo phân tích, lưu lượng của dữ liệu hiện nay đã vượt trội hơn rất nhiều so với lưu lượng thoại. Càng ngày sẽ càng có nhiều dịch vụ và các ứng dụng mới được triển khai khi băng thông dành cho người sử dụng tăng lên.
Đứng trước tình hình đó, một số công nghệ mới đã được đưa ra nhằm đáp ứng những đòi hỏi về băng thông. Hiện tại, các nhà cung cấp dịch vụ đã triển khai cung cấp dịch vụ Internet bằng công nghệ đường dây thuê bao số DSL. DSL sử dụng đôi dây giống như dây điện thoại, và yêu cầu phải có một modem DSL đặt tại thuê bao và DSLAM đặt tại tổng đài. Tốc độ dữ liệu của DSL nằm trong khoảng từ 128Kb/s đến 1.5Mb/s, nên khó có thể được coi là băng rộng do không cung cấp được các dịch vụ video, thoại, dữ liệu cho các thuê bao ở xa.
Khoảng cách từ tổng đài đến thuê bao chỉ trong phạm vi 5. Ta có thể tăng khoảng cách này bằng giải pháp triển khai thêm nhiều DSLAM đến gần thuê bao, nhưng đây là một giải pháp không hiệu quả do chi phí quá cao. Chương 2: Tổng quan về mạng quang thụ động PON TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Đồ án tốt nghiệp 10 Sinh viên: Bùi Thị Phong Một giải pháp khác được đưa ra là sử dụng cáp modem. Các công ty cáp TV cung cấp các dịch vụ Internet bằng cách triển khai các dịch vụ tích hợp dữ liệu trên mạng cáp đồng trục, mà ban đầu được thiết kế để truyền dẫn tín hiệu video tương tự.
Ví dụ, mạng HFC sẽ có sợi quang nối từ các đầu dẫn hay các hub đến các nút quang, và từ các nút quang sẽ phân chia đến các thuê bao thông qua cáp đồng trục, bộ lặp và các bộ ghép/tách. Tuy nhiên, mô hình kiến trúc này có nhược điểm là thông lượng hiệu dụng của các nút quang không quá 36Mb/s, vì vậy tốc độ thường rất thấp vào những giờ cao điểm. Như vậy, chúng ta thấy rằng cả công nghệ DSL và cáp modem đều không đáp ứng được những yêu cầu về băng thông cho mạng truy nhập. Hầu hết các nhà công nghệ mạng hiện nay đều đang tiến tới một công nghệ mới, tập trung chủ yếu vào truyền tải dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu IP.
Trong bối cảnh đó, công nghệ PON sẽ là một giải pháp tối ưu cho mạng truy nhập băng rộng. Người ta trông đợi mạng PON sẽ giải quyết được các vấn đề tắc nghẽn băng thông của mạng truy nhập trong kiến trúc mạng viễn thông, giữa một bên là các nhà cung cấp dịch vụ CO, các điểm kết cuối, các điểm truy nhập và một bên là các công ty được cung cấp dịch vụ, hay một khu vực tập trung các thuê bao. Khái niệm PON Mạng quang thụ động PON (Passive Optical Network) có thể định nghĩa một cách ngắn gọn như sau: “Mạng quang thụ động PON là một mạng quang không có các phần tử điện hay các thiết bị quang điện tử”. Hầu hết các mạng viễn thông ngày nay đều dựa trên các thiết bị Active components – là các thiết bị tích cực (như bộ chuyển đồi O/E, E/O), có nghĩa là các thiết bị này cần phải cung cấp nguồn cho một số thành phần, thường là bộ xử lý, các chip nhớ… Với mạng PON tất cả các thành phần tích cực giữa tổng đài CO và người sử dụng sẽ không còn tồn tại mà thay vào đó, PON sẽ chỉ bao gồm: sợi quang, các bộ chia, bộ kết hợp, connector, các thiết bị ghép kênh WDM thụ động.
Điều này giúp cho PON có một số ưu điểm như sau: Không cần nguồn điện cung cấp nên không bị ảnh hưởng bởi lỗi nguồn, và không mất chi phí cho việc cung cấp, bảo dưỡng năng lượng điện cho các thiết bị. Chương 2: Tổng quan về mạng quang thụ động PON TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Đồ án tốt nghiệp 11 Sinh viên: Bùi Thị Phong Không cần phải bảo dưỡng do tín hiệu không bị suy hao nhiều như đối với các phần tử tích cực. Giải quyết các vấn đề về băng thông, có độ tin cậy cao. Giảm chi phí lắp đặt thấp do nó tận dụng được những sợi quang trong mạng đã có từ trước.
PON cũng dễ dàng và thuận tiện trong việc ghép thêm các ONU theo yêu cầu của các dịch vụ, trong khi đó việc thiết lập thêm các nút trong mạng tích cực khá phức tạp do việc cấp nguồn tại mỗi nút mạng, và trong mỗi nút mạng đều cần có các bộ phát lại. PON có thể hoạt động với chế độ không đối xứng. Chẳng hạn, một mạng PON có thể truyền dẫn ở tốc độ 622 Mbits/s ở đường xuống và truy nhập ở tốc độ 155 Mbits/s ở đường lên. Một mạng không đối xứng như vậy sẽ giúp cho chi phí của các ONU giảm đi rất nhiều, do chỉ phải sử dụng các bộ thu phát giá thành thấp hơn.
PON còn có khả năng chống lỗi cao, do các nút của mạng PON nằm ở bên ngoài mạng, nên tổn hao năng lượng trên các nút này không gây ảnh hưởng gì đến các nút khác. Khả năng một nút mất năng lượng mà không làm ngắt mạng là rất quan trọng đối với mạng truy nhập, do các nhà cung cấp không thể đảm bảo được năng lượng dự phòng cho tất cả các đầu cuối ở xa. Vị trí của hệ thống PON trong mạng truyền dẫn: Mạng quang thụ động PON là một dạng của mạng truy nhập. Mạng truy nhập hỗ trợ các kết nối đến khách hàng, nó được đặt ở gần đầu cuối khách hàng và triển khai với số lượng lớn.
Mạng truy nhập tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và PON là một trong những dạng đó. So với mạng truy nhập cáp đồng truyền thống, sợi quang hầu như không giới hạn băng thông (hàng THz). Việc triển khai sợi quang đến nhà thuê bao đang và sẽ là mục tiêu phát triển trong tương lai. Kiến trúc của PON 2.
Kiến trúc Mô hình mạng quang thụ động với các phần tử của nó được biểu diễn như trong hình 2-1. Các phần tử thụ động của PON đều nằm trong mạng phân phối quang ODN bao gồm các phần tử như sợi quang, các bộ tách/ghép quang thụ động, các đầu nối Chương 2: Tổng quan về mạng quang thụ động PON TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Đồ án tốt nghiệp 12 Sinh viên: Bùi Thị Phong và các ONU/ONT đặt ở phía người sử dụng. Giữa chúng là hệ thống phân phối mạng quang ODN bao gồm cáp quang, các thiết bị ghép/tách thụ động. Hình 2-1: Mô hình mạng quang thụ động PON OLT: Cung cấp giao tiếp giữa hệ thống mạng truy cập quang thụ động PON và mạng quang đường trục của các nhà cung cấp dịch vụ thoại, dữ liệu và video.
OLT cũng kết nối đến mạng đường trục của nhà cung cấp dịch vụ thông qua hệ thống quản lý EMS. ONU: Cung cấp giao tiếp giữa mạng thoại, video và dữ liệu người dùng với mạng PON. Chức năng cơ bản của ONU là nhận dữ liệu ở dạng quang và chuyển sang dạng phù hợp với người dùng như Ethernet, POTS. ONT phục vụ cho một thuê bao đơn lẻ (nhà ở).
ONT không được tích hợp các chức năng bảo mật cao. ONU phục vụ cho nhiều thuê bao (văn phòng, tòa nhà lớn). Từ ONU có thể chia ra nhiều ONT, vì thế giá thành của một ONU đắt hơn so với ONT. EMS: Quản lý các phần tử khác nhau của mạng PON và cung cấp giao diện đến mạng lõi của các nhà cung cấp dịch vụ.
EMS có chức năng quản lý về cấu hình, đặc tính và bảo mật. Bộ tách/ghép: Thu và nhận các tín hiệu quang đuợc nhận và phát bởi OLT để truyền đi trên sợi quang. Chương 2: Tổng quan về mạng quang thụ động PON TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Đồ án tốt nghiệp 13 Sinh viên: Bùi Thị Phong PON thường được triển khai trên sợi quang đơn mode, với cấu hình cây là phổ biến. PON cũng có thể được triển khai theo cấu hình vòng ring cho các khu thương mại hoặc theo cấu hình bus khi triển khai trong các khu trường sở.
PON được sử dụng như mạng truy nhập kết nối điểm - đa điểm, với một CO phục vụ cho nhiều thuê bao. Có một số cấu hình kết nối điểm - đa điểm phù hợp cho mạng truy nhập như cấu hình cây, cây và nhánh, vòng ring, hoặc bus như trong hình 2-2. Hình 2-2: Các kiểu kiến trúc của PON Đây là những cấu hình rất mềm dẻo, phù hợp với nhu cầu phát triển của thuê bao, cũng như những đòi hỏi ngày càng tăng về băng thông. Quá trình truyền dữ liệu trong PON Tại hướng xuống, OLT phát quảng bá dữ liệu tới tất cả các ONT/ONU.
Tín hiệu hướng xuống bao gồm dữ liệu cho các ONT/ONU, từ đầu khai thác quản lý và bảo dưỡng OAM (Operation Administration and Maintenance) và các tín hiệu đồng bộ cho các ONT/ONU gửi dữ liệu hướng lên. Dựa vào các thông tin về khe thời gian (kênh), địa chỉ gói/tế bào, bước sóng, mà các ONU tách dữ liệu tương ứng với thuê bao của khách hàng. Trong hướng lên, kĩ thuật được sử dụng trong PON là đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA, khi đó mỗi ONT/ONU được cấp một khe thời gian (kênh) để gửi dữ liệu của mình tới OLT. Ngoài ra trong hướng lên cần phải có khoảng thời gian Chương 2: Tổng quan về mạng quang thụ động PON TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.