CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận 1.1 Khái niệm “năng lực” và năng lực môn Tiếng Việt tiểu học 1.1 Năng lực Một yếu tố cơ bản của nhân cách gọi là năng lực. Năng lực của con người thường mang dấu ấn cá nhân, thể hiện tính chủ quan trong hành động và được hình thành theo quy luật hình thành và phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân đóng vai trò quyết định. Nhờ sự kiên trì học tập, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm của bản thân nên năng lực ở mỗi người là khác nhau.
Trong văn bản của Chương trình GDPT 2018 có chỉ ra rằng: “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Phát triển năng lực Phát triển sự kiên trì học tập, rèn luyện của học sinh trong hoạt động thực tiễn chính là sự phát triển năng lực. Dạy học phát triển năng lực là đảm bảo phát triển năng lực của học sinh theo các mức độ phù hợp thông qua nội dung giáo dục với những kỹ năng, kiến thức cơ bản, hiện đại và thiết thực; phát huy những điểm mạnh của mỗi học sinh.
Đồng thời khi đánh giá năng lực sẽ có những phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu trong môn học đặt ra. Giúp học sinh phát triển khả năng tư duy tổng hợp các kỹ năng, kiến thức. thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết một cách hiệu quả nhất các vấn đề, các tình huống xảy ra trong học tập và đời sống hàng ngày, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng sống. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong môn Tiếng Việt ở tiểu học Mỗi học sinh có nhu cầu, sở thích và nền tảng xuất thân khác nhau.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là để tìm ra được những cách tiếp cận phù hợp nhằm phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất với mỗi học sinh thay vì giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức như ở mô hình dạy học truyền thống. Theo đó, dạy học theo hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu phát triển sự tích cực, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên. Trong mô hình dạy học theo hướng phát triển năng lực, học sinh có thể thể hiện sự tiến bộ của bản thân bằng cách chứng minh năng lực của mình. Điều đó có nghĩa là học sinh phải chứng minh mức độ nắm vững và làm chủ các kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực); huy động tổng hợp mọi nguồn lực (kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí,…) trong môn học hoặc trong tình huống cụ thể, theo tốc độ của riêng mình.
Môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt lớp 2 nói riêng là một môn học tích hợp. Năng lực tiếng Việt là một hệ thống năng lực với các năng lực chung và 2 năng lực: Năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học. * Năng lực ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ thể hiện ở hai phạm vi: đọc và viết. Đối với phần đọc thì học sinh cần đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu được nội dung hàm ẩn như chủ đề, chủ điểm, ý nghĩa của những hình ảnh nổi bật, bài học rút ra từ văn bản đã đọc.
Đối với học sinh lớp 2, chú trọng cả yêu cầu đọc đúng với tốc độ phù hợp và đọc hiểu nội dung đơn giản của văn bản. Đối với phần viết thì học sinh lớp 2 cần viết đúng chính tả, từ vựng, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn văn ngắn * Năng lực văn học Năng lực văn học thể hiện ở việc học sinh phân biệt được văn bản truyện và thơ (đoạn, bài văn xuôi và đoạn, bài văn vần); nhận biết được nội dung truyện, thơ và thái độ, tình cảm của tác giả; bước đầu hiểu được tác dụng của một số yếu tố hình thức của văn bản như: ngôn từ, nhân vật, cốt truyện, vần thơ; các biện pháp: so sánh, nhân hoá. Học sinh biết liên tưởng, diễn đạt có tính văn học trong quá trình viết và nói. Đối với học sinh lớp 2: năng lực văn học thể hiện ở việc nhận biết được văn bản nói về ai, về cái gì; nhận biết được nhân vật trong các câu chuyện, vần trong thơ; nhận biết được văn bản truyện và thơ.
Kiểm tra, đánh giá năng lực môn Tiếng Việt 1. Khái niệm kiểm tra, đánh giá Trích dẫn từ “Từ điển Tiếng Việt”, kiểm tra được hiểu là: Xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Như vậy, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá học sinh. Còn theo Jeam Maria D.Kefele: “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của một mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra một quyết định theo một mục đích nào đó” (Dẫn theo Nguyễn Thị Lan Phương, 2017).
Như vậy, để đối chiếu được với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra và đề xuất được những phương án thích hợp để nâng cao chất lượng dạy và học thì cần có quá trình kiểm tra, đánh giá. Vai trò của kiểm tra, đánh giá Việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng và có mối liên hệ khăng khít với nhau, trong đó kiểm tra là phương tiện còn đánh giá là mục đích. Việc kiểm tra – đánh giá sẽ cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, xác định được thành tích học tập, rèn luyện của học sinh theo mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học. Việc kiểm tra đánh giá cũng sẽ phản ánh sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, cụ thể: Một là, kiểm tra – đánh giá giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục trong quá trình dạy học; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh nhằm động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh kịp thời để hướng dẫn.
Qua đó sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh. Hai là, kiểm tra – đánh giá giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự giác trong học tập, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác với thầy cô, bạn bè mạnh dạn, tự tin hơn và có hứng thú học tập, rèn luyện để tiến bộ. Ba là, kiểm tra đánh giá giúp cha mẹ học sinh tham gia vào đánh giá quá trình học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; tích cực phối hợp với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh. Bên cạnh đó, kiểm tra – đánh giá giúp các tổ chức xã hội nắm thông tin chính xác, khách quan, phát huy nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển giáo dục.
Như vậy, trong lĩnh vực giáo dục thì quá trình kiểm tra – đánh giá sẽ giúp giáo viên thu thập, xử lý thông tin, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; diễn giải thông tin định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của học sinh.Các loại hình và quy trình đánh giá a. Đánh giá chẩn đoán Đánh giá chuẩn đoán trong giáo dục Tiểu học được tiến hành trước khi dạy xong một bài hay một chủ đề nào đó nhằm giúp cho giáo viên nắm được tình hình kiến thức liên quan đã có của học sinh, những điểm mà học sinh đã nắm vững, những thiếu sót cần bổ khuyết…để đưa ra phương pháp dạy phù hợp. Đánh giá từng phần Đánh giá từng phần được tiến hành nhiều lần, thường xuyên trong cả một năm học, giúp giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh cách dạy, cách học, ghi nhận kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện các nội dung khác trong chương trình môn học một cách cụ thể, vững chắc và có hiệu quả hơn. Đánh giá tổng kết Đối với Tiểu học, đánh giá tổng kết được tiến hành khi kết thúc một kỳ học, một năm học, nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập của học sinh, đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra, là minh chứng cho những danh hiệu khen thưởng học sinh đạt được cuối năm học.
Các hình thức kiểm tra, đánh giá Ở cấp Tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng, thường sử dụng các hình thức kiểm tra: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ. Kiểm tra, đánh giá thường xuyên (đánh giá quá trình). Hoạt động đánh giá này diễn ra thường xuyên trong một năm học, cung cấp thông tin về quá trình học tập, rèn luyện của học sinh cho cha mẹ học sinh biết và giúp giáo viên cải thiện các phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Hoạt động đánh giá này được thực hiện bởi giáo viên hoặc đồng nghiệp hoặc do học sinh cùng thực hiện, cung cấp thông tin phản hồi về hoạt động học tập của học sinh và không nhất thiết được sử dụng cho mục đích xếp hạng, phân loại.
*Mục đích của kiểm tra, đánh giá thường xuyên: - Giúp giáo viên, học sinh điều chỉnh kịp thời các phương pháp dạy và học cho phù hợp. - Thúc đẩy học sinh cố gắng tích cực làm việc một cách liên tục, có hệ thống, phát huy được những điểm mạnh của bản thân. - Tạo điều kiện vững chắc để giáo viên và học sinh chuyển dần sang những hoạt động mới, cần nhiều kĩ năng hơn. *Kiểm tra, đánh giá thường xuyên được tiến hành thông qua các hoạt động: - Quan sát hoạt động của tập thể lớp, hoạt động của mỗi học sinh, được ghi chép lại một cách có hệ thống.
- Qua việc ôn tập bài cũ, khám phá các nội dung trong bài mới và củng cố kiến thức của bài mới.