Chương 1: TỔNG QUAN VỀ COMPOZIT NỀN KIM LOẠI 1. COMPOZIT NỀN KIM LOẠI 1. Khái quát về compozit Vật liệu compozit là vật liệu tổ hợp gồm hai hay nhiều cấu tử khác nhau về tổ chức, tính chất, không hoặc ít tạo pha trung gian với nhau. Tính chất của vật liệu compozit phụ thuộc chủ yếu vào các thành phần tạo nên nó và độ bền liên kết giữa chúng.
Đặc điểm nổi bật của compozit là phát huy được những ưu điểm của vật liệu thành phần, đồng thời xuất hiện các tính chất mà vật liệu thành phần không có được khi đứng độc lập. Compozit được cấu tạo bởi hai phần chính là nền và cốt trong đó: - Nền là thành phần liên tục trong toàn bộ thể tích khối compozit. Vật liệu nền thường là các vật liệu có độ dẻo lớn, tỷ trọng nhỏ và đóng vai trò liên kết các pha cốt, tiếp nhận và truyền tác động bên ngoài vào pha cốt, bảo vệ pha cốt khỏi tác động của môi trường và tạo hình sản phẩm. Nền có thể là kim loại và hợp kim; cũng có thể là vật liệu hữu cơ, vô cơ, gốm, vật liệu cácbon và các vật liệu khác.
Tính chất của vật liệu nền quyết định các tham số công nghệ của quá trình chế tạo compozit và các đặc tính sử dụng của nó như khối lượng riêng, độ bền riêng, nhiệt độ làm việc, độ bền mỏi và khả năng chống ăn mòn. - Vật liệu cốt là pha gián đoạn phân bố trong nền, đóng vai trò tăng cường cơ, lý tính của vật liệu. Vật liệu cốt có thể là hai hoặc ba pha và thường là các hợp chất có độ bền, độ cứng, nhiệt độ nóng chảy cao [1, 2, 3, 4]. Cốt có bản chất khác nhau tùy thuộc vào loại compozit cần chế tạo: Trong compozit kết cấu cốt là pha có độ bền lớn, có tính quyết định tới độ bền của compozit; trong compozit cốt là pha có vai trò quyết định chức năng của compozit, ví dụ: trong compozit chịu mài mòn, cốt là các hạt cứng được phân bố đều trên nền mềm có tác dụng chịu mài mòn.
Hình dạng, kích thước, hàm lượng và sự phân bố của cốt là những yếu tố ảnh hưởng rất mạnh tới tính chất của compozit. Trên nguyên tắc, giữa nền và cốt của compozit ở điều kiện làm việc bình thường không có sự khuếch tán hòa tan lẫn nhau. Tuy nhiên, trong quá trình chế tạo, hệ thống có thể trải qua các điều kiện nhiệt độ cao, áp suất cao nên có thể xuất hiện sự tương tác giữa nền và cốt. Có các dạng tương tác giữa nền và cốt như: Nền - cốt không hoà tan lẫn nhau và không tạo hợp chất hoá học, Al-B, Al-Si … Nền - cốt tương tác tạo dung dịch rắn với độ hoà tan rất nhỏ và không tạo hợp chất hoá học.
Phần lớn các compozit nền kim loại có cốt là kim loại đều thuộc loại này: Nb-B, Ni-W, Ni-Al … Nền và cốt tạo phản ứng hoá học với nhau: Al-SiO2, Ti-Al2O3, Ti-SiC … Tuỳ thuộc vào tác dụng tương tác giữa nền và cốt sẽ hình thành mối liên kết nhất định. Độ bền của compozit chịu ảnh hưởng rất mạnh vào mối liên kết giữa nền và cốt. Liên kết giữa nền và cốt có ảnh hưởng rất lớn đến tính chất của vật liệu compozit. Sự truyền tải lực giữa nền và cốt chỉ xảy ra tốt khi nền - cốt được liên kết chặt chẽ với nhau.
Bề mặt tiếp xúc giữa nền và cốt tốt dẫn đến môi trường truyền tải khi có lực tác dụng tốt và khi đó pha cốt mới phát huy được vai trò là pha tăng bền cho vật liệu. Vậy phải có liên kết tốt giữa nền và cốt, đó là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho sự kết hợp các đặc tính tốt của hai pha nền và cốt. Có rất nhiều loại liên kết giữa 4 nền và cốt nhưng có thể phân ra các loại liên kết chính là: Liên kết cơ học: Là kiểu liên kết thuần túy cơ học giữa nền và cốt thông qua độ mấp mô bề mặt hoặc do lực ma sát. Liên kết này thường kém bền.
Liên kết nhờ thấm ướt: Liên kết thực hiện nhờ năng lượng sức căng bề mặt. Khi pha nền được nung chảy và dính ướt vào cốt, sẽ có hiện tượng khuếch tán hòa tan lẫn nhau của nền và cốt. Sức căng bề mặt trên ranh giới nền cốt khi nền đông đặc là yếu tố quyết định độ bền của dạng liên kết này. Liên kết phản ứng: Liên kết phản ứng xuất hiện khi trên ranh giới nền-cốt xảy ra phản ứng hóa học giữa nền và cốt.
Đặc tính của hợp chất hóa học tạo thành quyết định độ bền của mối liên kết này. Liên kết phản ứng phân đoạn: Phản ứng hóa học giữa nền và cốt xảy ra theo nhiều giai đoạn. Liên kết ôxít: Là dạng liên kết đặc trưng cho compozit nền kim loại với cốt là các ôxít. Liên kết thực hiện nhờ tạo ra các sản phẩm phản ứng ở dạng màng ôxít.
Liên kết hỗn hợp: Là dạng hỗn hợp của các kiểu liên kết. Liên kết này xuất hiện trong compozit mà sự tương tác giữa nền và cốt phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ hoặc điều kiện sử dụng. Khái niệm về compozit nền kim loại. Vật liệu compozit là tổ hợp của hai hay nhiều vật liệu thành phần nhằm tạo ra vật liệu mới có tính chất nổi trội hơn tính chất của từng vật liệu thành phần.
Vật liệu compozit nền kim loại (MMCs) là nhóm vật liệu có sự kết hợp giữa nền kim loại và các hạt tăng bền; chúng có những tính chất đặc trưng như: độ bền, độ bền riêng cao, hệ số giãn nở nhiệt thấp, độ dẫn nhiệt cao, chịu mài mòn tốt, chịu nhiệt tốt… hơn vật liệu thành phần [4, 5, 6, 7, 8, 9, 10], được minh họa theo hình 1. compozit compozit compozit nhôm thép thép compozit nhôm thép thép thép nhôm nhôm nhôm compozit Khối lượng Hệ số giãn Độ cứng Độ bền Độ bền mỏi nở nhiệt Hình 1. Tính chất vật lý và cơ học của vật liệu compozit so với 2 hợp kim thường được sử dụng là nhôm và thép [7] Compozit nền kim loại lần đầu được chế tạo bằng cách đưa vào nền kim loại những loại cốt tăng bền với mục đích chính là cải thiện môđun đàn hồi và độ bền cao hơn so với vật liệu polime. Nền chủ yếu là các kim loại nhẹ như nhôm, titan, magiê để cải thiện môđun đàn hồi và độ bền riêng ứng dụng cho ngành hàng không vũ trụ.
Từ những năm 1980 đã có nhiều nghiên cứu về vật liệu compozit nền kim loại cốt hạt để nâng cao hiệu quả sử dụng cũng như giảm giá thành sản phẩm. Các dạng thường gặp hơn cả của MMCs bao gồm các vật liệu như hợp kim cùng tinh kết tinh định hướng, hợp kim hóa bền phân tán bằng oxit, hợp kim đúc cùng tinh Al-Si, đôi khi cả thép peclit và hợp kim xếp lớp 2 pha như TiAl gamma. Đặc điểm nổi bật của 5 chúng là tính tăng bền vẫn được duy trì trong suốt quá trình gia công [11] và ngay cả khi ở nhiệt độ cao. Như vậy, có thể định nghĩa compozit nền kim loại (MMCs) là vật liệu tổ hợp giữa hai hoặc một vài cấu tử, trong đó ít nhất một cấu tử là kim loại hoặc hợp kim.
Sự kết hợp đó theo một sơ đồ được thiết kế. Các cấu tử ít hoặc không hòa tan vào nhau. Vật liệu compozit nền kim loại thường có nền là các kim loại như nhôm, magie, titan, sắt, cobalt, đồng… hoặc là các hợp kim của chúng như Al-Ti. Trong đó, nền trên cơ sở kim loại nhôm được sử dụng rộng rãi nhất.
Chúng được sử dụng trong công nghệ tự động hóa, công nghiệp hàng không, ô tô và dân dụng … Các hạt gia cường như: SiC; Al2O3 và B4C có thể chế tạo dễ dàng khi nóng chảy nhôm. Chúng có độ bền cao, tỷ trọng nhỏ và độ bền nhiệt cao; khả năng dãn nở nhiệt tốt và khả năng chống ăn mòn cao. Compozit nền mangan cũng được sử dụng nhiều nhưng do khó khăn trong quá trình chế tạo cũng như tính dẫn nhiệt kém nên chúng không được sử dụng rộng rãi như là nền nhôm. Compozit nền magiê được ứng dụng nhiều trong công nghiệp hàng không do độ bền tốt và tỷ trọng thấp.
Compozit nền titan được sử dụng rộng rãi vì do độ bền tốt, độ bền ở nhiệt độ cao và khả năng chống ăn mòn tốt. So với compozit nền nhôm thì compozit nền titan có tiềm năng sử dụng lớn hơn, tuy nhiên do những khó khăn trong quá trình chế tạo nên nên nhóm vật liệu này vẫn còn hạn chế. Mức sử dụng của vật liệu compozit theo các nền kim loại khác nhau được trình bày như hình 1. Compozit trên cơ sở Al có những ưu điểm như sau: Độ bền tốt hơn Giảm tỷ trọng Cải thiện độ bền ở nhiệt độ cao Kiểm soát được hằng số dãn nở nhiệt Cải thiện được tính dẫn điện Cải thiện khả năng chống ăn mòn Mức sử dụng vật liệu nền Vật liệu nền Hình 1.
Các loại vật liệu compozit nền kim loại hay sử dụng [7] Compozit nền Ti: Compozit nền Ti với cốt SiC ứng dụng rất nhiều trong công nghiệp hàng không được rất nhiều nước sử dụng như Mỹ, Anh, Trung Quốc. Nhóm vật liệu này có độ bền cao, khả năng chống dão ở nhiệt độ cao hơn hẳn vật liệu là hợp 6 - Rất khó nghiền vật liệu quá cứng hoặc quá mềm. - Bột có độ sạch không cao do ma sát trên thành máy và các chi tiết chuyển động như bi nghiền, má nghiền. - Vật liệu bột bị biến cứng bề mặt, hình dạng phức tạp, khó đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật.
Sự va chạm giữa các bi nghiền và mặt trong của tang nghiền có hiệu quả hơn so với giữa các bi nghiền với nhau vì các bi nghiền thường di chuyển theo cùng phương. Sự biến dạng của bột giữa hai bi nghiền hoặc giữa một bi nghiền với thành trong của tang nghiền trong các trường hợp va chạm có thể so sánh với quá trình tương tự trong khi chồn giữa hai tấm song song. Sự biến dạng cho mỗi trường hợp va chạm có thể tính theo công thức [90]: H ε max ln 2.12 H ΔH Trong đó: H- chiều cao của cụm vật liệu bột; H- sự thay đổi chiều cao của cụm vật liệu bột trong một va chạm. Ứng suất trung bình cần thiết cho sự biến dạng của một cụm vật liệu là [90]: _ ημ σ 2k1 2.