ĐẶT VẤN ĐỀ Cơ cấu kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi tỷ trọng từ nông nghiệp, công nghiệp sang dịch vụ. Có thể nhận thấy rằng trong vòng 15 năm trở lại đây du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng. Tuy nhiên trong thời gian phát triển du lịch Việt Nam chỉ chú trọng khai thác thiên nhiên mà chƣa có định hƣớng phát triển du lịch kết hợp với bảo vệ môi trƣờng hay du lịch bền vững. Du lịch sinh thái là nguồn lợi tiềm năng và ổn định của của ngành du lịch.
Sở dĩ có thể nói nhƣ vậy là do các hoạt động du lịch sinh thái thƣờng không gây tác động xấu đến môi trƣờng. Các hoạt động từ du lịch sinh thái nhƣ: Đi tham quan, nghiên cứu, hoạt động ngoài trời, hay xem các loài động vật hoang dã … vừa giúp tuyên truyền văn hóa dân tộc, nâng cao ý thức du khách về bảo vệ môi trƣờng hệ sinh thái, vừa giúp phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phƣơng. Mà trong đó du lịch xem chim hoang dã là một hoạt động rất thú vị và thân thiện đến môi trƣờng. Vƣờn quốc gia Xuân Thủy đƣợc biết đến là khu vực Ramsar đầu tiên của Việt Nam cũng nhƣ của khu vực Đông Nam Á.
Hệ sinh thái đất ngập nƣớc ở đây có tính đa dạng sinh học cao đã tạo nên rất nhiều sinh cảnh sống khác nhau nên khu hệ chim của vƣờn cũng rất đa dạng. Đặc biệt có 9 loài chim quý hiếm đƣợc đƣa vào sách đỏ của quốc tế. Vƣờn quốc gia Xuân Thủy có thể ví nhƣ là sân chim lớn nhất của miền Bắc đóng vai trò bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các giá trị văn hóa lịch sử và thúc đẩy phát triển kinh tế. Đến với Xuân Thủy du khách sẽ đƣợc tận mắt chứng kiến các hoạt động sống của rất nhiều loài chim nƣớc, đƣợc tham gia các hoạt động du lịch thân thiện với thiên nhiên.
Nghiên cứu xây dựng chƣơng trình hƣớng dẫn du khách bắt đầu đƣợc triển khai tại VQG Xuân Thủy từ năm 2012 theo Chƣơng trình liên minh đất ngập nƣớc (WAP). Tuy nhiên thông tin còn khá sơ xài, vai trò định hƣớng hoạt động hƣớng dẫn còn ít; bài diễn giải chƣa tập trung vào đối tƣợng cụ thể mà chỉ là thông tin tham khảo về hoạt động xem chim. 1 Bởi vậy tôi đã xây dựng khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Cơ sở khoa học cho diễn giải môi trường trên các tuyến du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Xuân Thủy” với mong muốn định hƣớng hoạt động hƣớng dẫn du khách, nhằm gia tăng giá trị sản phẩm du lịch sinh thái của VQG. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát về diễn giải môi trƣờng - Diễn giải là gì? Diễn giải đƣợc hiểu theo cách đơn giản là “ một cách tiếp cận truyền thông” mà thông qua phƣơng phức diễn đạt và giải thích ngƣời thực hiện sẽ giúp ngƣời nghe hiểu vấn đề. - Diễn giải môi trƣờng là gì? “Diễn giải môi trƣờng là quá trình hoạt động chuyển từ ngôn ngữ chuyên ngành môi trƣờng hoặc các lĩnh vực liên quan sang dạng ngôn ngữ và ý tƣởng mà những ngƣời bình thƣờng không hoạt động trong lĩnh vực môi trƣờng cũng có thể hiểu đƣợc” (Theo Sam H. Ham) Một khái niệm về diễn giải môi trƣờng đƣợc Freeman Tilden (1957) đƣa ra lần đầu tiên “Một hoạt động giáo dục diễn giải rõ các ý nghĩa và mối quan hệ trong môi trƣờng thông qua sử dụng các đối tƣợng có thật, sự tiếp xúc trực tiếp và các phƣơng tiện minh họa, hơn là chỉ đơn giản cung cấp thông tin sát thực” (9) Nhƣ trong định nghĩa của Tilden, mặc dù một nhà diễn giải có thể sử dụng những thông tin xác thực để minh họa hoặc làm rõ nghĩa, nhƣng nhà diễn giải trƣớc tiên phải cố gắng truyền đạt những ý tƣởng và các ý nghĩa chứ không chỉ đơn thuần là thông tin đó. Điểm này cho thấy sự khác biệt giữa nhà diễn giải với ngƣời hƣớng dẫn viên thông thƣờng.
Không chỉ lựa chọn các thông tin xác thực có mang tính hỗ trợ, minh họa và làm rõ nghĩa nhƣ một bài giảng thông thƣờng. Diễn giải nhƣ chúng ta sẽ thấy có mục đích là truyền tài một thông điệp – một thông điệp có thể trả lời cho câu hỏi “ nhƣ vậy để làm gì?. Một cách định nghĩa khác: Diễn giải môi trƣờng là sử dụng khuyên hay lời nhắn cụ thể về một vấn đề chủ đạo liên quan đến môi trƣờng - Một số khái niệm khác liên quan: 3 Chủ đề của một bài trình bày ở dạng ngôn ngữ nói hay viết đơn giản chỉ là nêu lên vấn đề chủ đạo, vấn đề chính, ý chính của cả bài. Chủ đề có thể không phải một câu hoàn chỉnh.
Thông điệp là một lời khuyên/ lời nhắn cụ thể mà chúng ta muốn chuyển tới khán giả về chủ đề nào đó. Một bài diễn giải môi trƣờng phải có chủ đề rõ ràng và một thông điệp cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ. Lược sử nghiên cứu diễn giải môi trường tại Việt Nam và VQG Xuân Thủy 1.1 Tại Việt Nam Bên cạnh sự hình thành và phát triển của du lịch sinh thái chúng ta cũng phải nói đến hoạt động diễn giải môi trƣờng – một trong những hoạt động đóng vai trò chủ đạo góp phần thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái. Rất khó có thể đƣa ra mốc thời gian chính xác về hoạt động diễn giải môi trƣờng đƣợc tổ chức lần đầu tiên ở đâu, các nội dung chính nhƣ thế nào.
Nhƣng có thể tổng quát đƣợc rằng ngay từ khi có đề án triển khai DLST tại một Khu bảo tồn thiên nhiên, Vƣờn quốc gia hay một vùng sinh thái … thì bộ phận chuyên trách tại các khu vực đã xây dựng các đề xuất để phát triển DLST. Diễn giải môi trƣờng là một thuật ngữ mới đƣợc ở Việt Nam từ đầu những năm 2000. Phần lớn mọi ngƣời hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam đều còn xa lạ với thuật ngữ này. Tuy nhiên, nếu bạn là hƣớng dẫn viên du lịch ở các VQG hay bất cứ điểm du lịch nào, hoặc bạn là các nhà khoa học phải thuyết trình trƣớc công chúng (những ngƣời bình thƣờng không làm nghiên cứu khoa học), bạn đang làm công tác diễn giải.
Tính nhƣ năm 2000 làm mốc xuất phát cho việc sử dụng thuật ngữ “ diễn giải môi trƣờng” tại Việt Nam. Các năm sau đó cũng đã có rất nhiều KBTTN, VQG thành lập các điểm du lịch, trung tâm du lịch sinh thái có áp dụng đến hình thức diễn giải môi trƣờng. Cụ thể nhƣ: 4 - Ngày 01/04/2011 Vƣờn Quốc gia Bidoup – Núi Bà đã tổ chức lễ ra mắt Trung tâm Du lịch sịnh thái và giáo dục môi trƣờng. Trong năm 2011 hai tuyến du lịch là: Tuyến tham quan thác nƣớc Thiên thai (khu hành chính dịch vụ) và chinh phục Langbiang đã đƣợc đƣa vào khai thác với mục tiêu “các hoạt động về diễn giải môi trƣờng với sự hƣớng dẫn, giới thiệu của các cán bộ có chuyên môn về thế giới động thực vật sẽ dẫn dắt du khách đến với những điều lý thú của thiên nhiên”.
Năm 2013 trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trƣờng thực hiện hoạt động diễn giải mỗi trƣờng với 20 chủ đề xoay quanh đa dạng sinh học và bảo vệ môi trƣờng tại VQG. - Ngày 15/7/2014, UBND tỉnh Quảng Bình đã ban hành Quyết định số 1852/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án và công nhận Điểm du lịch sinh thái và diễn giải môi trƣờng Vƣờn thực vật thuộc Vƣờn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng theo loại hình du lịch sinh thái, tham quan học tập, diễn giải môi trƣờng. Từ năm 2014 trở lại đây đã có rất nhiều khách du lịch tới tham quan khu Vƣờn thực vật tại đây và tham gia dƣới hình thức tham quan diễn giải môi trƣờng. Một số VQG, KBTTN khác cũng thành lập trung tâm du lịch sinh thái và diễn môi trƣờng hay phòng giáo dục môi trƣờng và du lịch sinh thái.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế nên đề tài chƣa nghiên cứu sâu đƣợc thời gian cụ thể diễn ra các hoạt động diễn giải môi trƣờng mà chỉ đƣa ra danh sách một số VQG, KBTTN khác có áp dụng hình thức du lịch sinh thái diễn giải môi trƣờng: + VQG Ba Vì – Hà Nội. + VQG Cát Bà – Hải Phòng. + VQG Cúc Phƣơng – Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình. + VQG Xuân Thủy – Nam Định.
+ VQG Bến En – Thanh Hóa. + VQG Cát Tiên – Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phƣớc. + VQG Côn Đảo – Bà Rịa – Vũng Tàu. + VQG York Đôn – Đắk Lắk.
… 5 Tóm lại tại Việt Nam hình thức diễn giải môi trƣờng đã đƣợc áp dụng tại nhiều nơi, bằng nhiều phƣơng thức khác nhau. Nhƣng chƣa có tài liệu nào thống kê cụ thể hay đƣa ra quy phạm về các nội dung chính, cách thức thiết kế, lập kế hoạch diễn giải môi trƣờng mà chỉ đƣợc thể hiện qua các bài nói chuyện, bài tham khảo.2 Tại VQG Xuân Thủy Dƣới góc độ sinh thái có thể thấy rằng khu vực VQG Xuân Thủy là một khu vực lý tƣởng để nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên tại đây các hoạt động nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đánh giá hiện trạng tài nguyên sinh vật, đánh giá đa dạng sinh học, đánh giá chất lƣợng môi trƣờng … Một số đê tài và công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến môi trƣờng đƣợc thực hiện tại VQG giai đoạn 1990 – 2012: + Đề tài “Khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng các bãi bồi ven biển sửa sông tỉnh Thái Bình”(Nguyễn Văn Cƣ, 1997). + Đề tài “Điều tra cơ bản tài nguyên môi trƣờng nhằm khai thác, sử dụng hợp lý đất hoang hoá các bãi bồi ven biển cửa sông Việt Nam” (Nguyễn Văn Cƣ, 1999).
+ Đề tài “Ứng dụng kỹ thuật viễn thám và GIS giám sát diễn biến xói lở bờ biển châu thổ sông Hồng” (Trần Văn Điện, Trần Đức Thạnh, Nguyễn Văn Thảo, 2001). + Năm 2003, trong khuôn khổ hợp tác giữa Chƣơng trình BirdLife Quốc tế tại Đông Dƣơng và VQG Xuân Thuỷ, Nguyễn Đức Tú, Lê Mạnh Hùng và Mai Xuân Trung đã công bố “Hƣớng dẫn giám sát bảo tồn tại VQG Xuân Thuỷ, Nam Định”, trong đó có đề xuất các chỉ số giám sát đối với VQG Xuân Thuỷ, bao gồm 5 loài chim và 6 mối đe dọa. + Năm 2004, công trình nghiên cứu “Danh lục các loài chim ở VQG Xuân Thuỷ” do Tổ chức BirdLife quốc tế tại Đông Dƣơng và Ban quản lý VQG Xuân Thuỷ thực hiện. Công trình này đã ghi nhận ở VQG Xuân Thuỷ có 219 loài chim thuộc 41 họ và 11 bộ.