Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội khu vực thành phố Hạ Long Chương 3:Hiện trạng và định hướng bảo vệ môi trường thành phố Hạ Long. 4 z CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ CHO ĐỊNH HƢỚNG BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1.
Khái quát các công trình nghiên cứu theo hƣớng địa lý tổng hợp Nghiên cứu theo hướng địa lý tổng hợp là đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ nghiên cứu. Trên thế giới, hướng nghiên cứu sử dụng lãnh thổ trên quan điểm tổng hợp được tiến hành từ cuối thế kỷ XIX bắt đầu từ các công trình nghiên cứu của V.V Docutraev – người đầu tiên thực hiên nguyên tắc tổng hợp trong nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của các địa phương cụ thể. Sau đó, những công trình nghiên cứu về sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường dựa trên quan điểm tổng hợp của các nhà địa lý Xô Viết (trước đây) và các nhà địa lý Nga, Ucraina, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Đức,…đã hoàn thiện lý luận và ứng dụng trong thực tiễn (Shisenko P.,1988 – Địa lý tự nhiên ứng dụng; Ixatrenko, 1991 – Cảnh quan học ứng dụng…). Các công trình nghiên cứu này đề cập đến xem xét một cách tổng hợp và toàn diện từ tự nhiên đến môi trường, kinh tế và xã hội.
Gần đây, có tác phẩm nổi tiếng “ Intergrated Environment Planning” của James K.Lain (Đại hội Ohio, Mỹ, 2003) [26] đề cập đến quy hoạch môi trường tổng hợp theo quan diểm địa lý học. Ở Việt Nam, tiếp cận tổng hợp đã được áp dụng vào cả về lý luận trong thực tiễn nghiên cứu địa lý trong các công trình nghiên cứu của của nhiều nhà địa lý và nhanh chóng trở thành một lĩnh vực nghiên cứu có tính ý nghĩa thực tiễn cao. Trong vài thập niên gần đây, Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan cũng như đánh giá tổng hợp nhằm mục đích sử dụng hợp lý lãnh thổ và bảo vệ môi trường cũng như các công trình mang tình chất lý thuyết cảnh quan ứng dụng của các tác giả Vũ Tự Lập, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần,…Quan điểm tổng hợp đã có những đóng góp to lớn trong nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất. Năm 1997, trong “Cơ sở cảnh quan của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam”, các tác giả Phạm Hoàng hải, Nguyễn 5 z Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh đã đề cập khá đầy đủ về những biến đổi của tự nhiên dưới tác động của con người, đưa ra các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Tổng quan cơ sở địa lý cho bảo vệ môi trƣờng 1. Một số khái niệm cơ bản a) Môi trƣờng Có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường: Theo từ điển Bách Khoa Larouse: “Môi trường là tất cả những gì bao quanh chúng ta hoặc sinh vật. Nói cụ thể hơn đó là các yếu tố tự nhiên và nhân tạo diễn ra trong không gian cụ thể, nơi đó có sự sống hoặc không có sự sống, các yếu tố đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của những định luật vật lý mang tính tổng quát hoặc chi tiết như định luật hấp dẫn và vũ trụ, năng lượng phát xạ bảo tồn vật chất. trong đó các hiện tượng hóa học và sinh học là những đặc thù cục bộ.
Môi trường bao gồm tất cả những nhân tố tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh vật và quần xa sinh vật” Theo Luật BVMT Việt Nam năm 2014 [7]: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” b) Bảo vệ môi trường Theo Luật BVMT Việt Nam (2014) [7]: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành c) Tài nguyên thiên nhiên Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận cấu thành của môi trường tự nhiên bao gồm tất cả các giá trị vật chất có sẵn trong tự nhiên (nguyên liệu, vật liệu do tự nhiên tạo ra, thông tin có trên Trái Đất và 6 z trong vũ trụ) mà con người có thể sử dụng trong quá trình sản xuất để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội. Có thể nói, tài nguyên thiên nhiên là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người. d) Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên SDHL TNTN là cách thức sử dụng vừa đáp ứng được nhu cầu cần sử dụng tài nguyên của xã hội hiện tại vừa đảm bảo duy trì lâu dài nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai.
Như vậy, SDHL TNTN trước hết phải là việc khai thác, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm các nguồn TNTN. SDHL tài nguyên phải phù hợp với chức năng, khả năng cung cấp đa dạng tài nguyên của các đơn vị lãnh thổ đồng thời phải đảm bảo sức tái tạo, khả năng phục hồi của tự nhiên, hạn chế các tai biến thiên nhiên, cải thiện và duy trì lâu dài chất lượng môi trường. e) Phát triển bền vững Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Theo luật BVMT Việt Nam (2014) [7]: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
f) Phân vùng địa lý tự nhiên Phân vùng địa lý tự nhiên là sự phát hiện và phân chia lãnh thổ tự nhiên trên bề mặt Trái đất thành các địa tổng thể với quy mô lớn nhỏ khác nhau theo những mối quan hệ về không gian, cấu trúc thành phần và động lực phát triển một cách biện chứng, có quy luật [13]. g) Phân vùng chức năng môi trường 7 z Phân vùng chức năng môi trường về bản chất là tổ chức không gian lãnh thổ dựa trên sự đồng nhất về phát sinh, cấu trúc hình thái và tính thống nhất nội tại của vùng cho mục đích khai thác, sử dụng, bảo vệ và bảo tồn sao cho phù hợp với sự phân hóa tự nhiên của các điều kiện tự nhiên, đặc điểm môi trường, sinh thái và hoàn cảnh kinh tế xã hội của vùng[13]. Khái quát về cơ sở địa lý trong bảo vệ môi trường Cơ sở địa lý trong BVMT là tiếp cận, đánh giá các đối tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội theo hướng đánh giá tổng hợp và đặc thù không gian. Các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã chỉ ra rằng, việc xác lập cơ sở địa lý cho BVMT là rất phù hợp và hiệu quả.
Bởi để nghiên cứu BVMT trước hết phải dựa vào các điều kiện địa lý (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, thực vật.) và xem xét chúng trong một thể tổng hợp tự nhiên. Từ đó tìm hiểu và xác định được các tiềm năng tự nhiên để có hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế xã hội. Thể tổng hợp tự nhiên được tạo thành bởi các quy luật phân hóa của các yếu tố tự nhiên trong quá trình trao đổi chất và năng lượng. Các thể tổng hợp tự nhiên chứa đựng những chức năng riêng tạo nên một hệ thống chức năng tổng hợp có mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa tự nhiên và kinh tế, xã hội và môi trường.
Như vậy, tiếp cận địa lý học trong việc BVMT là cách tiếp cận, đánh giá tổng hợp các thể tổng hợp tự nhiên nhằm xác định các mối quan hệ và sự biến đổi của các thành phần tự nhiên, các tính chất môi trường của lãnh thổ với hoạt động của con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên. Trong nghiên cứu địa lý, đánh giá tổng hợp các thể tổng hợp tự nhiên là phương pháp chủ đạo nhằm xác định các mối quan hệ và những tác động tương h giữa các yếu tố và thành phần tự nhiên trong thể tổng hợp đó cũng như giữa các thể tổng hợp với nhau. Nhận diện và đánh giá một cách đầy đủ bản chất tự nhiên, chức năng kinh tế của các thể tổng hợp tự nhiên sẽ góp phần đưa ra định hướng lâu dài cho việc BVMT. 8 z Cơ sở địa lý (Theo Từ điển Bách khoa Địa lý - 1988, Nguyễn Cao Huần.
2003) [8] bao gồm: tính không gian (tính lãnh thổ), tính thời gian, tính tổng hợp và quan hệ tương h , tính cụ thể và ngôn ngữ bản đồ. a) Tính không gian Tính không gian là sự phân bố không gian (theo phương nằm ngang hay theo phương thẳng đứng) của bất kỳ một hiện tượng, một quá trình tự nhiên hay xã hội nào. Trong quá trình nghiên cứu tính không gian phục vụ cho việc SDHL TN và BVMT, các nhà địa lý học thường tập trung nghiên cứu tính không gian theo chiều nằm ngang hay còn gọi là tính lãnh thổ hơn là tình không gian theo chiều thẳng đứng. b) Tính tổng hợp và quan hệ tương hỗ Khi nghiên cứu khai thác các điều kiện tự nhiên và xã hội phục vụ sử dụng hợp lý lãnh thổ cần xem xét nhiều yếu tố và các mối quan hệ giữa chúng để kết quả nghiên cứu sát với thực tế khách quan và hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra.