mở đầu cho hướng nghiên cứu này,ông sử dụng nguyên tắc tổng hợp để nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của các địa phương cụ thể. Ông cho rằng “Tôn trọng và nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên một cách thống nhất, toàn vẹn và không chia cắt, chứ không phải tách rời chúng ra thành từng phần”. Sau đó, các nhà địa lý Xô Viết (cũ) và sau này là Nga, Ba Lan, Bungari. đã hoàn thiện lý luận và ứng dụng nó vào thực tiễn, cụ thể là Shisenkô P.G, 1988, Địa lý tự nhiên ứng dụng và Ixtraenkô, 1991, Cảnh quan học ứng dụng.
Các công trình này đề cập đến việc xem xét một cách tổng hợp và toàn diện từ tự nhiên đến môi trường, từ kinh tế đến xã hội. Tác giả người Mỹ James K.Lain (Đại học Ohio, năm 2003) với cuốn Integrated Environment Planning đề cập đến quy hoạch môi trường tổng hợp theo quan điểm địa lý học. Trên thực tế, con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ sự phát triển kinh tế- xã hội trong một môi trường Địa lý cố định, lớn nhất chính là toàn cầu, nhỏ hơn ở phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ. Các yếu tố trong đó luôn ảnh hưởng và quy định lẫn nhau, từ đó ảnh hưởng tới môi trường xung quanh.Hiện nay, các nghiên cứu về quy hoạch môi trường hay bảo vệ môi trường đều sử dụng quan điểm tổng hợp này.
Tại Việt Nam, tiếp cận tổng hợp ngày càng trở thành hướng nghiên cứu quan trọng cả trong lý luận và thực tiễn. Trong thời đại phát triển bền vững, hướng nghiên cứu này phát huy được ưu thế đánh giá tổng hợp, cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Trước thế kỉ XX, địa lý Việt Nam có khuynh hướng nghiên cứu địa lý bộ phận với ưu điểm dễ thực hiện; địa lý tổng hợp kém phát triển, ít công trình nghiên cứu, kinh tế xã hội cũng ít được quan tâm. Các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần, Vũ Tự Lập.
là những người tiên phong trong hướng nghiên cứu này với các công trình nghiên cứu cảnh quan, sử dụng hợp lý tài nguyên- môi trường, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lý thuyết cảnh quan ứng dụng. Vũ Tự Lập với “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” xuất bản năm 1976 trình bày các phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu tổng hợp trong nghiên cứu cảnh quan. Tính logic của nó đã khiến quan điểm địa lý tổng hợp qua công trình này được đề cao và tin cậy bởi các nhà khoa học. Công trình “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp tài nguyên thiên nhiên,bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” năm 1997 của ba tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh đã trình bày những biến đổi của tự nhiên do con người tác động, đồng thời đưa ra các giải pháp sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường.Ngày càng nhiều công trình khoa học được triển khai dưới quan điểm địa lý tổng hợp, đóng góp lớn lao trong việc nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất cũng như quy hoạch lãnh thổ, bảo vệ môi trường[4].2 Các công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Ninh và khu vực biển đảo Vân Đồn, đảo Quan Lạn Tỉnh Quảng Ninh có vai trò rất quan trọng trong kinh tế cả nước, đồng thời cũng là vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều giá trị tài nguyên độc đáo, điển hình là vùng than và vịnh karst ngập nước Hạ Long, vịnh Bái Tử Long… Chính vì vậy, các cấp bộ ngành và các nhà khoa học thường xuyên thực hiện những đánh giá, nghiên cứu về môi trường, tài nguyên, kinh tế…Những nghiên cứu bước đầu được thực hiện từ những năm 1975, ngay sau khi đất nước thống nhất.
Đó là những nghiên cứu về khí hậu Việt Nam của Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc [22]. Các đặc điểm khí hậu Quảng Ninh được phân tích từ số liệu quan trắc khí hậu- thủy, hải văn trạm Hồng Gai, Bãi Cháy, Cô Tô. Sau đó là các nghiên cứu thiết lập các bản đồ địa chất- địa mạo và tài nguyên khoáng sản như: Bản đồ địa chất Việt Nam (Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao; 1981-1985), Bản đồ địa chất Hòn Gai- Móng Cái (Nguyễn Công Lượng; 1976-1979), Lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long (Nguyễn Đức Thạnh, 2002)… Bên cạnh đó, các nghiên cứu về hệ sinh thái trong khu vực cũng được triển khai, điển hình là “Điều tra nghiên cứu các hệ sinh thái thực vật thành phố Hạ Long và vùng phụ cận” của Vũ Quang Côn và nnk (1990) hay “Khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 50 đảo ven bờ Bắc Bộ Việt Nam” của Uông Đình Khanh và nnk (2013). Nghiên cứu theo hướng địa lý tổng hợp cần thiết cho khu vực cũng đã xuất hiện từ lâu.
Các cấp bộ ngành đã xây dựng được các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội từng thời kì, thay đổi phù hợp với hiện trạng và xu hướng phát triển trong tương lai. Năm 2014, Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050 do Công ty Nikken Sekkei Civil Engineering LTD tư vấn lập quy hoạch đã được phê duyệt theo Quyết định số 1588/QĐ-UBND là một nghiên cứu tổng thể lớn của vùng đã chỉ ra những hướng đi cụ thể cho kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Ninh. Tại Vân Đồn, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của huyện tới năm 2020, tầm nhìn 2030 do UBND huyện thành lập cũng trong năm này đã nghiên cứu điều kiện tự nhiên- tài nguyên thiên nhiên và thực trạng kinh tế xã hội của huyện để đưa ra những phương án phát triển phù hợp[28]. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo sự phát triển của kinh tế và khoa học, vấn đề môi trường dần được chú trọng.
Các nghiên cứu về môi trường tại khu vực cũng xuất hiện như: Các giải pháp công nghệ phòng chống ô nhiễm môi trường do khai thác than ở vùng than Quảng Ninh (Đặng Văn Bát và nnk, 1999), Thực trạng công nghệ khai thác tại các mỏ than Quảng Ninh và giải pháp nhằm giảm tổn thất tài nguyên và sự cố môi trường (Lê Như Hùng và nnk, 2002)… Những năm gần đây, các đánh giá về môi trường tại Quảng Ninh tiếp tục góp mặt trong các dự án lớn: Dự án kiểm soát ô nhiểm môi trường biển do các hoạt động kinh tế- xã hội vùng biển Quảng Ninh- Hải Phòng, Đà Nẵng- Quảng Nam, Bà Rịa Vũng Tàu- Thành phố Hồ Chí Minh được Cục điều tra và kiểm soát tài nguyên- môi trường biển thực hiện năm 2013, nhằm nêu ra hiện trạng ô nhiễm và biện pháp kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường vùng này. Năm 2014, Công ty TNHH Nippon Koei thực hiện Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 cũng đã chỉ ra thực trạng và các giải pháp cho vấn đề ô nhiễm vùng biển Quảng Ninh, Vân Đồn. Những nghiên cứu chi tiết ở quy mô diện tích nhỏ cũng xuất hiện như “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”- Luận văn Thạc sĩ của Đặng Thị Việt Hương năm 2012 cho 2 xã Minh Châu và Quan Lạn trên đảo Quan Lạn. Vấn đề quản lý nhà nước về môi trường tại Quảng Ninh cũng được cụ thể hóa, không còn là các biện pháp chung chung.
Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển ven bờ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của Hà Văn Hòa (2015) là một công trình tiêu biểu.Luận án chỉ ra rằng quản lý nhà nước“chưa đáp ứng được so với thực tiễn tăng trưởng kinh tế hiện nay”; quy hoạch bảo vệ môi trường “chưa bảo đảm tính khách quan, bảo đảm lợi ích chung do sự chi phối của lợi ích cục bộ địa phương hay lợi ích nhóm”; vấn đề quản lý tổng hợp thì “chưa có một cơ quan có thẩm quyền đủ mạnh để thống nhất điều hành quản lý”; xuất hiện hiện tượng “nhờn luật”; “thiếu cơ chế quản lý đa ngành”. Những định hướng đã biến thành hành động thực tế mang lại nhiều kết quả tốt: Năm 2016, Đề án “Nâng cao công tác quản lý đô thị trên địa bàn khu đô thị Cái Rồng và công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện giai đoạn 2017-2020” của UBND huyện Vân Đồn, trong đó quản lý chất thải rắn được chú trọng xử lý, mang lại cảnh quan “xanh- sạch- đẹp” cho các địa phương.2 Tiếp cận địa lý tổng hợp trong quy hoạch không gian sử dụng hợp lý tài nguyên vàbảo vệ môi trƣờng 1.1 Cơ sở khoa học về môi trường và bảo vệ môi trường Luật Bảo vệ môi trường 2015 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Môi trường địa lý trong Đại bách khoa toàn thư Xô Viết lại có nội dung:“Môi trường địa lý là một bộ phận tự nhiên của bề mặt Trái Đất bao quanh xã hội loài người và bị thay đổi bởi con người ở các mức độ khác nhau và xã hội ở một thời 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm nhất định có quan hệ trực tiếp với bộ phận đó trong đời sống xã hội và sản xuất của mình”[15]. Môi trường mà học viên sẽ phân tích và định hướng bảo vệ tại vùng biển đảo Quan Lạn thuộc môi trường tự nhiên dưới sự tác động của hoạt động kinh tế - xã hội.
Và môi trường tự nhiên với những chức năng của mình chính là nguồn sống của con người, nguồn vật chất để phát triển kinh tế- xã hội. Môi trường tự nhiên có các chức năng sau: 1, Là không gian sống của con người và các thể sinh vật. 2, Là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và các hoạt động KT- XH của con người. 3, Là nơi chứa đựng và chuyển hóa các chất thải do con người tạo ra trong hoạt động đời sống và KT-XH của mình.
4, Là nơi điều hòa môi trường, giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên đối với con người và sinh vật. 5, Là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người về môi trường sống. Trong đó, chức năng thứ 3- nơi chứa đựng và chuyển hóa các chất thải của con người là chức năng được nghiên cứu chính trong luận văn. Khi lượng chất thải của con người xả thải vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường, chất lượng môi trường sẽ suy giảm, môi trường có thể bị ô nhiễm.