Chương 1: Những vấn dé lý luận về Cổ phần hoá doanh nghiệp nha nước Chương 2: Thực trạng pháp luật về Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Chương 3: Những vấn đề đặt ra và một số kiến giải góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước * PHAN KẾT LUẬN. CHUONG 1 NHỮNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BAN VỀ CO PHAN HOA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1⁄1: KHÁI LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1: Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ( sau đây gọi tắt là cổ phần hoá) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải cách khu vực kinh tế quốc doanh để đáp ứng với yêu cầu của việc chuyển đối nền kinh tế từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, để thực hiện tốt chủ trương này, trước hết đòi hỏi chúng ta phải làm rõ thực chất vấn dé cổ phần hoá là gì ?. Cổ phần hoá là một vấn dé hết sức mới mẻ và rất phức tạp, do vay cho đến nay vẫn còn chưa có sự thống nhất về mặt khái niệm, những khái niệm như cổ phần hóa, tư nhân hóa, Công ty hoá.
còn chưa được hiểu một cách đầy đủ và thống nhất. Do đó trước tiên cần tìm hiểu và đi đến sự nhất trí về vấn đề này. Tiên thế giới,ở một số nước có nền kinh tế thị trường, trong quá trình cải cách khu vực kinh tế nhà nước,Cổ phần hoá gần như đồng nhất với Công ty hoá kinh tế quốc doanh, được hiểu là quá trình chuyển hoá doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần chỉ có một cổ đông duy nhất là nhà nước, di nhiên sau khi thành lập, các công ty cổ phần này có thể phát hành cổ phần mới hoặc bán cổ phần cũ cho các thành phần kinh tế khác. Ở Việt Nam, thea Luật công ty thi công ty phải có ít nhất hai thành viên ngay từ khi thành lập (đối với gông ty cổ phần số thành viên tối thiểu là 7).
Vì vậy muốn chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần (Cổ phần hoá) thì ít nhất phải có 7 thành viên mua cổ phân của doanh nghiệp đó. Như vậy Công ty hoá doanh nghiệp Nhà nước được hiểu là chuyển doanh nghiệp Nhà nước từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước sang hoạt động dưới hình thức Công ty, tức là có từ hai chủ sở hữu trở lên. Thực tế ở Việt Nam đã có một số doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang dang Công ty Công tư hợp doanh, Công ty TNHH. Tư nhân hoá đoanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển toàn bộ hoặc một phần vốn, tài sản và quyền quản lý của nhà nước sang sở hữu tư nhân, quá trình tư nhân hoá có thể thực hiện bằng nhiều cách như bán toàn bộ, bán một phần, cho không hoặc chuyển sang hoạt động dưới hình thức Công ty.
Ở một số nước phương tây, tư nhân hoá là một giải pháp cơ bản nhằm cơ cấu lại hoạt động của bộ phận kinh tế quốc doanh. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước được hiểu là quá trình chyén toàn bộ hoặc một phần tài sản và quyền quản lý doanh nghiệp Nhà nước sang các thành phần kinh tế khác dưới dạng Công ty cổ phần. Doanh nghiệp Nhà nước sau khi cổ phần hoá chuyển sang hình thức Công ty cổ phần. Như vậy cổ phần hoá và Công ty hoá là những giải pháp để tư nhân hoá doanh nghiệp Nhà nước.
Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam, không thể đồng nhất Cổ phần hoá với tư nhân hoá kinh tế quốc doanh, điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu và ; A) OL Sea ở” tầm quan trọng đặc biệt của vấn dé Cổ phần hoá/nước ta. Bản chất của Cổ phần hoá ở nước ta không phải nhằm tư nhân hoá tài sản quốc gia. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Dang đã khẳng định : “ Trong quá trình Cổ phần hoá, tiền thu được do bán cổ phần của nhà nước phải đầu tư lại để mở rộng sản xuất kinh doanh, làm cho tài sản thuộc sở hữu của nhà nước ngày càng tăng lên chứ Cổ phần hoá không đồng nghĩa với tư nhân hoá”). Như vậy, việc nhà nước xác định giá trị doanh nghiệp, chia thành cổ phần phát hành cổ phiếu bán cho các đối tượng khác nhau, thu hồi vốn để đầu tư cho các công trình khác hoàn toàn không làm tài sản thuộc sở hữu nhà nước mất đi mà chỉ làm thay đồi hình thái giá trị của nó , Mục tiêu đặt ra của chủ trương cổ phần hoá ở nước ta không phải là nhằm xoá bỏ bản chất kinh tế của doanh nghiệp nhà nước mà trước hết là để tạo ra một hình thức tổ chức quản lý sản xuất thích ứng với cơ chế thị trường phát triển, trên cơ sở đó cho phép nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng cường sức mạnh của kinh tế quốc doanh nói riêng và tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội nói chung , Việc Cổ phần hoá - xét vệ phương diện chính trị nhằm thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần tạo động lực cho người đầu tư, người có cổ phần và người lao động tham gia tích cực hơn vào việc quản lý doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Về phương điện kinh tế; Cổ phan hoá nhằm đa dang hoá nguồn vốn, doanh (1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng nghiệp nhà nước chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần: Nhà nước và các cổ đông cùng góp vốn, cùng chia lãi theo kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Đây là hình thức sản xuất kinh doanh mới nhằm khai thác mọi tiềm năng, tạo thêm của cải cho xã hội. - Về xã hội : Cổ phần hoá nhằm xác lập quyền làm chủ thực sự cho người lao động , người lao động từ vị trí người làm thuê đã trở thành người chủ sở hữu đồng thời cũng là người trực tiếp tiến hành hoạt động sẵn xuất kinh doanh và tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp. - Về phương diện pháp lý : Cổ phần hoá là một giải pháp pháp lý nhằm thay đổi một số chế định về quản lý đối với kinh tế quốc doanh khắc phục tình trạng kém hiệu quả và chứa đựng nhiều tiêu cực của khu vực kinh tế này.
Rõ ràng, Cổ phần hoá là một giải pháp có tầm quan trọng đặc biệt đối với công cuộc đổi mới nền kinh tế ở nước ta. Vậy thực chất Cổ phần hoá ở nước ta hiện nay là gì ? Nghị định 28/CP ngày 07/05/1996 của Chính phủ về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần ( sau đây gọi tat là nghị định 28/CP) tại diéu 1 đã xác định ; Cổ phần hoá là “ Chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần”, Vấn đề này đã được xác định rõ hơn trong thông tư số 50 TC/TCDN ngày 30/08/1996 của Bộ tài chính ( gọi tắt là thông tư 50 TC/TCDN): “Doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần (hay còn gọi là Cổ phần hoá ) là một biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nha nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần, trong đó tồn tại một phần sở hữu nhà nước. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển sản xuất, thúc đẩy quá trình xử lý và khắc phục những tồn tai hiện thời của doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện cho những người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”, Từ những qui định trên ta thấy : Quá trình Cổ phần hoá phải giải quyết được những vấn đề sau: - Về sở hữu: Cổ phần hoá chính là đa dạng hoá quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước , chủ sở hữu được cụ thể hoá, tách bạch quyền sở hữu ra khỏi quyền kinh doanh. - Về hoạt động: Xoá bỏ cung cách hoạt động theo kiểu mệnh lệnh hành chính, cắt bỏ sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp.
6 Xác lập được quyền tự chủ sản xuất kinh doanh thực sự, tự quyết đính phương án sản xuất kinh doanh, tự tổ chức hoạt động kinh doanh cho phù hợp với cơ chế thị trường. Mọi hoạt động của doanh nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu lợi ích và phù hợp với qui luật giá tri. - Về quản lý: Cổ phân hoá làm thay đổi phương thức quản lý, cơ cấu tổ chức-cơ chế quản lý của doanh nghiệp được tổ chức theo luật công ty đã ban hành và các luật khác. - Về hiệu quả: Cổ phần hoá phải bảo đảm sản xuất kinh doanh phát triển, nâng cao được hiệu quả kính tế của doanh nghiệp.
Cơ sở pháp lý chi phối vấn dé Cổ phần hoá là các qui định của hiến pháp 1992, về quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi thành phần kinh tế, về đa dạng hoá hình thức sở hữu. Điều 15 Hiến pháp 1992 đã xác định rõ : “ Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Điều 22 còn qui định: “ Các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần đều bình đẳng. doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong ya ngoài nước theo qui định của pháp luật”.
Trong đó: “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển nhất là trong những ngành và finh vực then chốt , giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân” (điều 19). Như vậy nhà nước có thể tiến hành cổ phần hoá những doanh nghiệp nhà nước không thuộc lĩnh vực then chốt đồng thời nhà nước sé giữ một tỉ lệ cổ phần chi phối đối với một số doanh nghiệp nhất định. Cổ phan hoá còn dựa trên cơ sở các qui định của luật doanh nghiệp nha nước về quản lý phần vốn góp của nhà nước ở các doanh nghiệp ( có sự tham gia của các thành phần kinh tế khác) trong đó xác định rõ quyển và nghĩa vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong việc quản lý cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt của nhà nước trong các doanh nghiệp.