MỞ ĐẦU 1. Tông quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Đối với ngành công nghiệp sản xuất ethanol, việc thực hiện quá trình lên men sinh ra ethanol với nồng độ cao được quan tâm hàng đầu. Nồng độ ethanol thu được sau quá trình lên men phụ thuộc vào giống vi sinh vật sử dụng và các thông số kỹ thuật của quá trình lên men. Do đó, để nâng cao hiệu quả quá trình lên men ethanol cần chọn giống vi sinh vật có khả năng chuyển hóa cơ chất thành ethanol với hiệu suất cao và các thông số kỹ thuật phù hợp với giống vi sinh vật đó.
Giống vi sinh vật: Hiện nay, trong công nghiệp, Saccharomyces cerevisiae là loài vi sinh vật chủ yếu được sử dụng cho quá trình lên men ethanol (Yu và cộng sự, 2010). Theo Liang và cộng sự, (2008), S.cerevisiae có ưu điểm vượt trội hơn các loài vi sinh vật khác là khả năng chuyên hóa đường thành ethanol với hiệu suất khá cao (90%). Tuy nhién, nam men S. cerevisae chỉ sinh trưởng và lên men tốt trong môi trường có nhiệt độ dao động trong khoảng 30 đến 35°C (Eiadpum và cộng sự, 2012).
Sự sinh trưởng của nấm men giảm mạnh khi nhiệt độ môi trường lên men vượt quá 35°C (Torija và cộng sự, 2002). Do đó, quá trỉnh lên men ethanol sử dụng nam men S. cerevisiae cin có hệ thống điều nhiệt, từ đó làm tăng giá thành san phẩm. Trên cơ sở đó, việc sử dụng giống vi sinh vật chịu nhiệt để ứng dụng vảo quy trình lên men ethanol là vấn đề thật sự cần thiết.
Theo Wilkins va cộng sự (2008), Kluyveromyces marxianus là giỗng vì sinh vật tiềm năng để lên men ethanol ở nhiệt độ cao. Kluyveromyces marxianus Ngoài các đặc điểm hình thái chung của nắm men, K. marxianus c6 một số đặc điểm vượt trội hơn các loài nắm men khác như: * _ Có khả năng sinh trưởng ở nhiệt độ lên đến 52°C và có khả năng lên men ethanol ỗn định khi nhiệt độ lên men tăng từ 30 dén 45°C (Banat và cộng sự,1992 & 1995), Dé tai GV tré Chủ nhiệm đề tài: Lê Hoàng Du = ar — aa res A CO aT 521520. “Có khả năng lên men nhiều nguồn carbohydrate khac nhau nhw: inulin (Singh va Bhermi, 2008), lactose (Lukondeh va céng sy, 2005), sucrose (Gough va McHale, 1998), glucose, mannose, xylose,.
= Bé mat thành tế bào nằm men là ưa nước (Teixeira và cộng sự, 1995) nên tế bào có khả năng bám tốt vào các vật liệu cellulose (Kourkoutas và cộng sự, 2002). "_ Có thời gian phân bào rất ngắn (chi khoảng 70 phút) (Lane và Morrissey, 2010) K. marxianus được xếp vào nhóm vì sinh vật hiểu khí, respiro-fermentative. Respiro- fermentative là đặc điểm của nhóm vi sinh vật có khả năng lên men phụ thuộc vào nồng độ oxy trong môi trường.
marxiawws có thể sử dụng nguồn carbon để sinh năng lượng thông qua chu trình Crebs hay thông qua quá trình lên men ethanol (Lane và Morrissey, 2010). Việc sử dụng K. marxiamus để lên men ethanol đã được thực hiện trong rất nhiều nghiên cứu trước đây (Limtong và cộng sự, 2007; Rodrussamee và cộng sự, 2011; Tomás-Pejó và cộng sụ, 2009). Trong các nghiên cứu đó, quá trình lên men ethanol được thực hiện trong điều kiện thay đổi các thông số công nghệ đầu vào như: pH môi trường ban đầu (Limtong và cộng sự, 2007), nhiệt độ lên men (Rodrussamee va cộng sy, 2011), pH và nhiệt độ (Wilkins và cộng sự, 2008), nồng độ cơ chất ban đầu (Rodrussamee và cộng su, 2011),.
Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu này đều sử dụng tế bào K. marxianus ở dạng tự do; chưa có một nghiên cứu nào khảo sát ảnh hưởng của các thông số công nghệ của quá trình lên men đến khả năng lên men của Ấ. marxianus cố định. K, marxianus tự do có khả năng én định hoạt tính lên men khi nồng độ cơ chất ban đầu đạt 200 g/L.
Ngoài ra, theo López- Alvarez và cộng sự (2012), X. marxianus có hiệu suất chuyển hóa đường thành ethanol cao hơn hẳn so với S. cerevisae & quy mô phòng thí nghiệm lẫn pilot. Điều nay chứng tỏ K.
marxianus là giéng vi sinh vật tiềm năng có khả năng thay thế S.cerevisiae để lên men ethanol ở quy mô công nghiệp. Bên cạnh việc ứng dụng chủng nấm men chịu nhiệt, việc sử dụng tế bào nắm men cố định cũng cải thiện hiệu quả của quá trình lên men ethanol ở nhiệt độ cao (Gough và McHale, 1998). Kỹ thuật cố định tế bào nắm men cy Dé tai GV tré Chủ nhiệm đề tài: Lê Hoàng Du Giới thiệu sơ lược về cố định tế bào Kỹ thuật cế định tế bào được định nghĩa là kỹ thuật bao bọc hoặc định vị các tế bào còn nguyên vẹn trong một “vùng không gian nhất định” mà vẫn giữ được các hoạt tính xúc tác mong muốn (Karel và cộng sự, 1985). Dựa vào cơ chế của quá trình cô định, kỹ thuật cổ định được chia thành bốn nhóm chính là hấp phụ té bao trên bề mặt chất mang rắn, nhốt tế bao trong khung mạng xốp, kết bông tế bào, nhốt tế bào bằng phương pháp cơ học bên trong một màng chắn.
Việc sử dụng tế bảo cố định đã mang lại nhiều lợi ích đáng kể hơn so với việc sử dụng tế bảo tự do. Dưới đây là những lợi ích quan trọng: “Chất mang được xem là tác nhân bảo vệ tế bảo chống lại các điều kiện bất lợi của môi trường như pH thấp, nhiệt độ cao, sự có mặt của dung môi hay kim loại nặng. Do đó, tế bào cô định có hoạt tính trao đổi chất và độ bền hoạt tính cao hơn so với tế bào tự do. " Mật độ tế bảo cao trong bình phản ửng sẽ làm tăng năng suất của thiết bị lên men, rút ngắn thời gian lên men.
* Cai thién kha năng lên men của tế bảo khi nồng độ cơ chất cao. " Dễ dàng thu hồi sản phẩm, giảm bớt các yêu cầu về quá trình phân riêng canh trường và tế bào; do đó, giảm chỉ phí về năng lượng và thiết bị. = Tế bào cố định có khả năng tái sử dụng nhiều lần trong phương pháp lên men chu kỳ và rất thích hợp trong phương pháp lên men liên tục. " Giảm nguy cơ nhiễm vi sinh vật từ môi trường bên ngoài vào dịch lên men do mật độ tế bào và hoạt tính lên men của tế bảo tăng cao (Kourkoutas và cộng sự, 2004).
Hiện nay, chất mang thông dung cho quá trình cố định tế bào nấm men là các loại gel tự nhiên và tổng hợp (Yu và cộng sự, 2010). Tuy nhiên, nhược điểm của nhóm chất mang này là lớp màng bao quanh các tế bào nắm men cố định làm giảm sự khuếch tán của các phân tử cơ chất từ môi trường vào bên trong gel và tiếp xúc với tế bào nắm men (Yu và cộng sự, 2010). Để cải thiện vấn để này, nhiều nghiên cứu đã sử dụng chất mang có cầu trúc xốp như miếng trái cây tươi hoặc khô, vỏ trái cây (vỏ dựa hấu (Reddy và cộng sự, 2008), vỏ cam (Plessas và cộng sự, 2007)), thân cây (thân mía (Liang và cộng sự, 2008), thân mía lau ———————_ 3 Dé tai GV tré Chủ nhiệm đề tài: Lê Hoàng Du =——————===———ễễễễễễ (Chandel] và cộng sự, 2009), thân ngô (Vesna vả cộng sụ, 2008), thân lúa miễn (Yu và cộng sự, 2007)). Quá trình cố định tế bào nắm men trên chất mang giau cellulose cé cấu trúc xốp được thực hiện bằng phương pháp hấp phụ.
Cố định tế bào nấm men bằng phương pháp hấp phụ « Nguyên tắc Kỹ thuật cỗ định tế bảo bằng phương pháp hấp phụ chủ yêu dựa vào các tương tác vật lý giữa tế bào và chất mang (Kourkoutas và cộng sự, 2004; Souza và cộng sự, 1986). Theo Liang và cộng sự (2008), chất mang giàu cellulose có chứa nhiều nhóm chức hóa học ưa nước trên bể mặt. Các nhóm ưa nước này có thẻ tạo liên kết vật lý với các nhóm chức hóa học có điện tích trái dấu trên thành tế bảo nắm men. Nhờ đó, tế bào nắm men có thê dễ dàng hấp phụ lên bề mặt chất mang.
Đối với chất mang có chứa lignocellulose, sự hấp phụ của tế bào nấm men bị cản trở bởi các nhóm lignin. Do đó, nhóm chất mang này phải được xử lý sơ bộ để loại bỏ lignin trước khi thực hiện quá trình cố định (Das và cộng sự, 1993). Một trong những yếu tố quan trong trong quá trình cỗ định tế bào bằng phương pháp hấp phụ là độ xốp, tổng diện tích bề mặt của chất mang và kích thước của lỗ mao quản trong cấu trúc chất mang (Branyik và cộng sự, 2004). Các yếu tố này phụ thuộc vào bản chất của chất mang và khó tính toán chính xác do phần lớn các chất mang tự nhiên có cấu trúc khá phúc tạp và không đồng nhất.
Trong quá trình cô định, tế bảo sẽ xâm nhập vảo trong cấu trúc rỗng xốp của chất mang cho đến khi sự "cố định” của chúng bị ngăn cân trở bởi sự có mặt của những tế bào khác (Martynenko và Gracheva, 2003). Sự phát triển của tế bào trong chất mang phụ thuộc vào độ xốp của chất mang. Hàm lượng oxy thâm nhập vào bên trong cấu trúc của chất mang sẽ giảm dần theo chiều từ bên ngoài vào bên trong. Mật độ tế bảo ở gần bề mặt chất mang thường cao hơn, do đó hoạt tính trao đổi chất của những tế bảo ở tại vùng tâm vả ở vùng bé mặt chất mang có thể rất khác nhau.
Ngoài ra, những tế bào được định vị trên bề mặt ngoải của chất mang sẽ sinh sản và dễ tách khỏi chất mang. Điều nảy làm cho canh trường lên men bao gm cả những tế bào đã được cố định và những tế bảo ở dạng tự do (Martynenko va Gracheva, 2003). Để cố định nấm men trên chất mang bằng phương pháp hấp phụ, người ta dùng phương pháp cỗ điển là ngâm chất mang trong huyền phù vi sinh vat (Martynenko va Dé tai GV tré Chủ nhiệm đề tài: Lê Hoàng Du — — == a el Gracheva, 2003). Vi sinh vật sẽ tự động kết lắng và liên kết với chất mang bằng cách hấp phụ lên chất mang đó.
Để hỗ trợ cho quá trình cố định, người ta có thể dùng cánh khuấy (Kopsahelis và cộng sự, 2007) hay bơm hổi lưu huyền phù vi sinh vật qua cột chứa chất mang (Tsakiris và cộng sụ, 2004). Khi đó khả năng tiếp xúc giữa chất mang và vi sinh vật sẽ tốt hơn nên hiệu suất cố định cũng được cải thiện đáng kể. ¢ Chat mang giau cellulose để cố định tế bào nắm men Để cố định tế bảo, chất mang giữ vai trò rất quan trọng.