Chương 1: Tổng quan về đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết về cơ cấu vốn tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Lý thuyết định thời điểm Xét trên góc độ nhà đầu tư, định thời điểm thị trường (market timing) là một chiến lược dựa trên nỗ lực dự đoán biến động giá thị trường trong tương lai để đưa ra quyết định mua bán tài sản tài chính (thường là chứng khoán).
Tuy nhiên, trong tài chính doanh nghiệp, xét trên góc độ nhà quản trị doanh nghiệp, lý thuyết định thời điểm thị trường cho rằng, nhà quản trị tận dụng lợi thế về thông tin nội bộ doanh nghiệp, dựa trên sai lệch giá thị trường so với giá trị thực của cổ phần, sẽ tiến hành điều chỉnh thời điểm phát hành vốn cổ phần. Trong nghiên cứu thời điểm thị trường và cơ cấu vốn của Baker và Wurgler (2002) cho thấy một cái nhìn mới về vấn đề cơ cấu vốn. Các tác giả cho rằng thật khó để giải thích sự lựa chọn tài trợ thông qua các lý thuyết truyền thống. Thay vào đó, tác giả đề xuất lý thuyết định thời điểm thị trường, trong đó nói rằng cơ cấu vốn là kết quả tích lũy của những nỗ lực trong quá khứ để định thời điểm thị trường chứng khoán.
Các công ty đều chọn phát hành vốn cổ phần khi cổ phiếu của họ có giá trị thị trường cao hơn giá trị sổ sách và giá trị thị trường trong quá khứ. Điều này nhằm khai thác những biến động tạm thời trong chi phí vốn cổ phần, làm giảm chi phí vốn cổ phần của công ty. Mặt khác, các công ty sẽ tiến hành mua lại cổ phần trong trường hợp cổ phiếu của họ bị định giá thấp. Những điều này đơn giản chỉ là những nhà quản trị tin rằng họ có thể gia nhập thị trường đúng lúc để tối đa hóa giá trị và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mình.
Khi cả thị trường nợ và thị trường cổ phiếu thuận lợi một cách bất thường, các nhà quản lý tăng vốn mặc dù hiện tại công ty không có nhu cầu tài trợ. Ngược lại, trong trường hợp cả hai thị trường không thuận lợi, các doanh nghiệp sẽ trì hoãn việc phát hành. Lý thuyết này cũng nói rằng định thời điểm thị trường để phát hành vốn cổ phần có một tác động rất lớn và dai dẳng lên tỷ lệ đòn bẩy. Đặc biệt, những 8 biến động tạm thời trong giá trị thị trường gây ra những thay đổi lâu dài trong cơ cấu vốn của các công ty.
Lý thuyết dòng tiền tự do Trong nghiên cứu của Jensen (1986) lý thuyết dòng tiền tự do về chi phí đại diện của đồng tiền tự do, chính sách cổ tức và tài trợ đã cho rằng dòng tiền mặt dư thừa được sử dụng để đầu tư vào các dự án có mức sinh lợi kém hoặc đầu tư vào các tổ chức hoạt động không hiệu quả tạo ra mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà quản lý làm giảm hiệu suất của công ty, bởi các nhà quản lý vì lợi ích bản thân thường có xu hướng mở rộng quy mô của công ty thậm chí là thực hiện cả những dự án gây hại đến lợi ích của cổ đông, dẫn đến đầu tư quá mức. Trong khi đó, cổ đông mong muốn các nhà quản lý tối đa hóa giá trị cổ phần, các nhà quản lý có thể có lợi ích khác nhau và mong muốn đạt được lợi ích cho bản thân hơn. Trong trường hợp này nếu sử dụng nợ vay sẽ giúp hạn chế vấn đề đầu tư quá mức và nợ được xem là một công cụ hữu ích để giải quyết vấn đề dòng tiền tự do. Giới thiệu khái quát về tổng quan ngành Logistics 2.
Khái niệm về Logistics Theo Hội đồng quản trị Logistics của Mỹ (Council of Logistics Management – CLM): “Logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả chi phí lưu thông, dự trữ nguyên vật liệu, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng dòng thông tin tương ứng từ điểm xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên, yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Điều 233 Luật Thương mại 2005 quy định “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao 9 gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Như vậy, Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, thời điểm, vận chuyển, dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí hợp lý, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
Đặc điểm ngành Logistics Logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên 3 khía cạnh là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống. Logistics sinh tồn, hoạt động và hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ, tạo cơ sở hình thành hệ thống logistics hoàn chỉnh. - Logistics sinh tồn: liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con người: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu. Logistics sinh tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistics nói chung.
- Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với toàn bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp. Logistics hoạt động liên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào trong, đi qua và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đến tay người tiêu dùng cuối cùng. - Logistics hệ thống giúp cho việc duy trì hệ thống hoạt động. Các yếu tố của logistics hệ thống bao gồm các máy móc thiết bị, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở hạ tầng nhà xưởng,.… Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp: Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng.
Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình. 10 Logistics là sự phát triển hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận. Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hóa khái niệm vận tải giao nhận truyền thống. Từ việc thực hiện những khâu riêng lẻ như thuê tàu, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng…cho tới cung cấp dịch vụ trọng gói từ kho đến kho, từ chỗ đóng vai trò đại lý, người được ủy thác trở thành chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh.
Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức. Trước đây, hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau. Do đó, rủi ro lạc mất đối với hàng hóa là rất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều nhà vận tải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm. Tới những năm 60-70 của thế kỉ XX, khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO- Multimodal Transport Operator) thì MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất, MTO ở đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics.
Vai trò của Logistics Logistics là một chức năng kinh tế, có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng. Logistics có mặt trong mọi lĩnh vực của cuộc sống từ sản xuất, kinh doanh cho đến y tế, giáo dục. Nhưng lĩnh vực Logistics hoạt động tập trung nhất, dễ thấy nhất, chính là giao nhận vận tải và kho bãi. Vai trò của Logistics đối với doanh nghiệp Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ.
11 Logistics hỗ trợ đắc lực cho hoạt động Marketing. Chính Logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào thời điểm thích hợp. Sản phẩm, dịch vụ chỉ có thể làm thoả mãn khách hàng và được đánh giá cao khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn, địa điểm quy định. Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế Phát triển dịch vụ logistics sẽ đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế.
Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Mỹ và Nhật logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể cao hơn 30%. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng.
Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng giảm được chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 2. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới Nghiên cứu của Maslis (1983) cho kết quả tương quan thuận giữa giá cổ phiếu và đòn bẩy tài chính. Đó cũng là kết quả tương quan giữa hiệu quả hoat động và cơ cấu vốn.