MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dân số tăng nhanh, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ kéo theo chất thải phát sinh cũng đang gia tăng cả về khối lượng và chủng loại. Ô nhiễm chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) đã và đang trở thành vấn đề được toàn xã hội quan tâm trong những năm gần đây. Riêng tại tỉnh Lào Cai, tổng khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn tỉnh năm 2019 là khoảng 456 tấn/ngày (Bộ TNMT, 2022) Với khối lượng phát sinh ngày càng lớn như trên, việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt là vấn đề nổi cộm, khó khăn và cấp thiết chung của nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Lào Cai.
Trong những năm qua, công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong bảo vệ môi trường ngày càng trở nên cấp thiết, được chính quyền tỉnh Lào Cai quan tâm và ưu tiên thực hiện. Việc quản lý công tác thu gom, vận chuyển CTRSH, giúp người quản lý nắm bắt về: quy mô, khối lượng, tần suất của việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt; các tuyến đường được giao nhiệm vụ thu gom, vị trí các địa điểm tập kết rác thải, nhân viên quản lý tuyến,. Những thông tin trên có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý điều hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo vệ môi trường. Trước đây, công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lào Cai được quản lý phân tán tại nhiều phòng, ban, đơn vị với nhiều phiên bản, định dạng khác nhau như: File Excel, trên giấy tờ, bản đồ giấy,.
Việc quản lý bằng phương pháp trên mất rất nhiều thời gian, không thuận tiện và thiếu trực quan, đồng thời khó quản lý nhân viên tại địa bàn. Dữ liệu chưa đảm bảo mức độ đầy đủ, chính xác, một số tuyến đường là tên kỹ thuật vì tại thành phố Lào Cai một số loại bản đồ trực tuyến như: Google map, bản đồ giao thông,… còn chưa cập nhật đầy đủ tên và vị trí tuyến đường gây khó khăn trong việc tìm kiếm, định tuyến, chưa sẵn sàng để phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý, chia sẻ dữ liệu với các ngành, lĩnh vực khác có liên quan. Từ những bất cập đó, năm 2021, Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị tỉnh Lào Cai đã nghiên cứu, đưa các ứng dụng của công nghệ GIS (Geographic Information System) vào việc quản lý công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lào Cai, thông qua sản phẩm “Bản đồ số”, góp 10 phần tăng cường công tác chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động trong công tác quản lý hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói chung, thành phố Lào Cai nói riêng. Để có những đánh giá chi tiết, khoa học về mức độ áp dụng, hiện trạng áp dụng, hiệu quả áp dụng, cũng như ưu – nhược điểm của việc áp dụng chuyển đổi số trong hoạt động quản lý thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lào Cai, tôi đề xuất nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác chuyển đổi số trong quản lý hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lào Cai, giai đoạn 2021 - 2022”.
Kết quả của đề tài sẽ giúp các đơn vị quản lý môi trường trên địa bàn thành phố Lào Cai có góc nhìn toàn diện, khách quan về lợi ích của việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý môi trường nói chung, quản lý CTRSH nói riêng thông qua bộ số liệu có độ tin cậy cao. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá được công tác chuyển đổi số trong quản lý hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lào Cai, giai đoạn 2021 – 2022. - Đề xuất được giải pháp góp phần đẩy nhanh, nâng cao hiệu quả của công tác chuyển đổi số trong quản lý hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lào Cai trong thời gian tới. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Tăng tính tích cực, chủ động cho người học, từ đó nâng cao kĩ năng tự học, tự nghiên cứu.
+ Kết quả của đề tài là tư liệu học tập, tài liệu tham khảo tin cậy cho sinh viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Tài nguyên & Môi trường. - Ý nghĩa thực tiễn: + Chỉ ra được những mặt hạn chế và tích cực của quả trình chuyển đổi số trong hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt; + Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp địa phương thông qua việc đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về chất thải rắn sinh hoạt và công tác chuyển đổi số 1.
Khái niệm, phân loại và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 1. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt Khái niệm chất thải rắn (CTR) được quy định tại mục 19, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2020: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc bùn thải”. Một số quốc gia sử dụng “Chất thải rắn đô thị” thay cho tên gọi “Chất thải rắn sinh hoạt” và mỗi quốc gia có định nghĩa riêng. Tuy nhiên, khái niệm phổ biến nhất là: tất cả CTR phát sinh từ hoạt động sinh hoạt (công sở, hộ gia đình, …), không bao gồm chất thải phát sinh từ quá trình công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp được gọi là chất thải rắn sinh họạt (JWNET, 2018; Pichtel, 2014).
Nguồn gốc phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt a) Nguồn gốc phát sinh Nguồn phát sinh CTR sinh hoạt chủ yếu thường từ: (1) Hộ gia đình; (2) Khu thương mại (chợ, siêu thị, nhà hàng,…); (3) Cơ quan công sở (cơ quan, bệnh viện, trường học, trung tâm, viện nghiên cứu, …); (4) Các khu công cộng (công viên, khu vui chơi giải trí, nhà ga,…); (5) Hoạt động xây dựng; (6) Dịch vụ công cộng (xe bus, quét đường,…); (7) Sản xuất công nghiệp; (8) Sản xuất Nông nghiệp (Asia Institute of Technology, 2004). b) Thành phần Thành phần CTRSH có sự khác biệt giữa các khu vực, quốc gia khác nhau và có mối liên hệ chặt chẽ với khả năng kinh tế và thói quen tiêu dùng, nhận thức, phong cách sống của người dân. Tại Châu Á (một số quốc gia như: Hàn Quốc, Ấn độ, Trung Quốc, …), CTRSH thường có thành phần chủ yếu là thực phẩm và chất thải vườn, do đó chất thải thường có độ ẩm cao, nhiệt trị thấp. Đối với các quốc gia phát triển khác tại Châu Âu, Châu Úc (Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản, Hà Lan, …), CTRSH có thành phần chủ yếu là giấy và nhựa (chất thải tái chế), do đó thường có độ ẩm thấp, nhiệt trị cao.
Đây là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH. Mức sống ngày càng cao, tiện ích phục vụ cho 12 cuộc sống ngày càng tốt đã dẫn đến sự thay đổi trong thành phần của CTRSH, theo hướng ngày càng nhiều thành phần khó xử lý, khó tái chế. Theo thành phần, nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã phân loại CTRSH thành: (1) Thành phần thực phẩm thải; (2) Thành phần không phải thực phẩm thải và có thể tái chế; (3) Phần còn lại. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại một số quốc gia trên thế giới (Đơn vị: % khối lượng ướt) (Nguồn: Yoon & Lim, 2005; BMA, 2014; Gu và cộng sự, 2016; Yamada và cộng sự, 2017; Ramachandra và cộng sự, 2018; US EPA, 2019) 13 1.
Khái niệm về số hóa và chuyển đổi số a) Số hóa Theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Kế hoạch & Đầu tư năm 2021, số hóa gồm 02 dạng hình thức tồn tại, gồm: số hóa dữ liệu và số hóa quy trình. Cụ thể: - Hình thức số hóa dữ liệu là việc chuyển đổi thông tin, dữ liệu, tài liệu từ dạng vật lý, analog sang định dạng kỹ thuật số. Ví dụ: scan giấy tờ, hồ sơ, tài liệu dạng giấy sang lưu ở dạng file PDF, ảnh JPG,. lưu trong máy chủ của đơn vị, công ty.
Ví dụ: tài liệu, hồ sơ, hình ảnh,. sau khi được lưu tại máy chủ sẽ được tải lên các nền tảng đám mây để mọi người có thể dễ dàng tìm kiếm, truy cập. Nhờ đó, việc tiếp cận dữ liệu nhanh chóng và thuận tiện hơn, giúp làm tăng hiệu quả công việc. Từ các phân tích trên, có thể nói: Số hóa dữ liệu là bước đệm để số hóa quy trình làm việc.
b) Chuyển đổi số Chuyển đổi số là quá trình ứng dụng các công nghệ và kỹ thuật số hiện đại nhằm cải thiện hiệu quả, cách thức hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp,. Chuyển đổi số đã làm thay đổi cách thức làm việc, mô hình kinh doanh và vận hành doanh nghiệp, hoàn thiện tổ chức,… từ đó tạo ra những giá trị mới cho đơn vị và doanh nghiệp; cung cấp cho người dùng và khách hàng những trải nghiệm cũng như giá trị tốt hơn; đồng thời nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường cho đơn vị, doanh nghiệp. Ngoài tác động đến quá trình làm việc của doanh nghiệp, đơn vị, chuyển đổi số còn có tác động trực tiếp đến văn hóa tổ chức của công ty, đơn vị, đòi hỏi đơn vị và doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, kể cả là chuẩn bị về tâm lý cho nhân viên, đồng thời phải đào tạo họ để có thể thích ứng với sự thay đổi. Chuyển đổi số là xu hướng nổi bật tại nước ta cũng như trên khu vực và thế giới, được ứng dụng trong nhiều ngành, nghề và nhiều lĩnh vực khác nhau (Bộ Kế hoạch & Đầu tư, 2021).
14 c) Phân biệt số hóa và chuyển đổi số * Giống nhau: Số hóa và chuyển đổi số đều là quá trình ứng dụng công nghệ số hiện đại vào hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp. Từ đó làm thay đổi nhiều quy trình, thao tác truyền thống, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp. Những công nghệ được áp dụng từ đơn giản như chuyển dữ liệu sang dạng file mềm,… đến phức tạp như ứng dụng các công nghệ hiện đại như AI, Big Data, IoT,… * Khác nhau: Sự khác nhau được thể hiện ở yếu tố con người và các giá trị bền vững. Số hóa chỉ đơn giản là ứng dụng công nghệ để làm thay đổi thao tác làm việc, các quy trình, là việc sự sử dụng kỹ thuật số thuần túy, bản thân dữ liệu không thay đổi, chỉ thay đổi cách thức lưu trữ.