CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG NHUỆ - ĐÁY. Nghiên cứu đặc tính thủy văn sông Nhuệ - Đáy Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy nằm ở hữu ngạn sông Hồng với diện tích tự nhiên 7665 km2, dân số đến năm 2000 là 8.209,2 nghìn người. Lưu vực bao gồm một phần Thủ đô Hà Nội, 1 thành phố, 47 thị xã, thị trấn, 44 quận huyện và hơn 990 xã, phường. Lưu vực có toạ độ địa lý từ 200-21020' vĩ độ Bắc và 1050- 1060 30' kinh độ Đông, bao gồm các tỉnh sau: Hoà Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.
Sông Nhuệ chảy qua nhiều tỉnh với chiều dài 74 km, rộng trung bình là 30 – 40 m và các nhánh lớn khác chảy ngang qua trục chính như tô lịch,lương, đồng bồng, cầu ngà … hai sông Nhuệ Đáy cung cấp nước tưới cho nhiều khu vực đồng bằng bắc bộ. Theo đại diện tỉnh Nam Định, cả mùa hèvà mùa đông nước sông Đáy đều bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh, đã xuất hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và dầu mỡ. Sông Đáy nguyên là một phần lưu lớn của sông Hồng, có chiều dài khoảng 247 km, bắt đầu từ cửa. Hát Môn cho đến cửa Đáy trước khi đổ ra biển Đông.
Do ảnh hưởng của đập Đáy nên đoạn thượng nguồn (từ sau đập Đáy đến Ba Thá dài 71 km) của sông Đáy gần như là một sông chết. Lượng nước chủ yếu cung cấp cho sông Đáy lấy từ các sông nhánh đổ vào, trong đó quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào và sông Nhuệ. Lưu vực có một số sông nhánh chính lấy nước từ sông Hồng qua các công trình điều tiết nước là sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu Giang và sông Đào. Ngoài ra lưu vực còn nhận nước tự nhiên, làm nhiệm vụ thoát nước của các con sông nhánh khác như sông Tích, sông Hoàng Long, sông Thanh Hà, sau khi chảy qua các thành phố, thị trấn, thị xã, khu công nghiệp, khu du lịch, làng nghề.
Sông Hồng cung cấp khoảng 85 – 95% tổng lượng nước cho lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Tổng lượng nước hàng năm của sông Đáy khoảng 28.8 tỷ m3 trong đó sông Đào ( Nam Định) đóng góp khoảng 25.5%), sông Tích và sông Đáy ở Ba Thá đóng góp 1. Trên lưu vực mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm đóng góp từ 70 đến 80% lượng dòng chảy cả năm. Vào mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 5 nước của hai con sông chính trong lưu vực được cung cấp bởi nước sông Hồng: sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc; sông Đào lấy nước từ sông Hồng và đổ vào sông Đáy.
Chế độ dòng chảy của sông Đáy không những phụ thuộc vào yếu tố khí hậu ( trước hết là mưa) mà còn phụ thuộc chủ yếu vào nước sông Hồng và chế độ triều ở Vịnh Bắc Bộ. Dòng chảy của sông Nhuệ phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ đóng mở của các cống điều tiết : cống Liên Mạc ( lấy nước từ sông Hồng), cống Thanh Liệt (lấy nước từ sông Tô Lịch) và các cống trên trục chính như: Hà Đông, Đồng Quan, Nhật Tựu, Lương Cổ - Hiệp Sơn. Lưu vực sông Nhuệ - Đáy chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều đều vịnh Bắc Bộ. Đánh giá chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy Đánh giá chất lượng nước sông Nhuệ Đáy và diễn biến chất lượng nước sông qua các năm dựa trên cơ sở các kết quả khảo sát, đo đạc của các cơ quan nghiên cứu, Nghiên cứu áp dụng tuyển nổi áp lực trong công nghệ xử lý nước cấp với nguồn nước mặt sông Đáy Học viên thực hiện: Phạm Văn Ánh Cán bộ hướng dẫn: PGS.
Nguyễn Việt Anh Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kỹ thuật Page 12 đặc biệt là kết quả quan trắc và phân tích môi trường của các trạm quan trắc môi trường Quốc gia thuộc Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ TN&MT và các sở TN&MT các tỉnh phía Bắc, so sánh với QCVN 08 – 2008/BTNMT trong các năm vừa qua. Chất lượng nước sông Nhuệ Đáy khu vực Hà Nam được thể hiện ở bảng sau. Tổng hợp chất lượng nước sông Nhuệ Đáy khu vực thành phố Phủ lý Chất lượng nước đầu Chất lượng vào nước đầu ra Thông số Đơn vị Giá trị Giá trị QCVN tối thiểu tối đa 01: 2009/BYT Giá trị pH - 6.8 2 Độ đục mg/l 36 250 5 Cặn lơ lửng mg/l 20 480 - Ô xy hoà tan mg/l 4.5 Nitrat mg/l Rất nhỏ 3.087 3 Tổng độ cứng mg/l 41 195 300 Kiềm mg/l 25 135 - COD mg/l 1.5 28 - Natri + Kali mg/l 0.5 33 - Sunphat mg/l 1 24 250 Clo mg/l 0.05 Thuỷ ngân mg/l 0.008 - Tổng lượng coliform MPN/ml 0.7 x 0 10^3 10^3 Nghiên cứu áp dụng tuyển nổi áp lực trong công nghệ xử lý nước cấp với nguồn nước mặt sông Đáy Học viên thực hiện: Phạm Văn Ánh Cán bộ hướng dẫn: PGS. Nguyễn Việt Anh Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kỹ thuật Page 13 (Nguồn: Nguyễn Văn Khả, 11/2010) * Một số nhận xét: - pH: nước sông Nhuệ - Đáy có tính kiềm nhẹ, với giá trị pH trung bình dao động trong khoảng 7,4 - 7,6.
Giá trị pH lớn nhất 8,7, nhỏ nhất 6,1. Dao động của pH không theo quy luật mùa. Giá trị pH > 7 của nước sông Nhuệ - Đáy thuận lợi cho quá trình xử lí nước bằng phèn. - Hàm lượng ô xy hoà tan (DO): nhiều số liệu quan trắc cho thấy giá trị DO trong nước sông thấp hơn giá trị cho phép đối với nước mặt trước khi xử lý tại các công trình xử lý nước cho sinh hoạt.
Tuy nhiên, hàm lượng DO trong sông Nhuệ - Đáy vẫn nằm trong phạm vi cho phép của tiêu chuẩn QCVN 08- 2008/BTNMT. - TSS: Cặn lơ lửng trong nước sông Nhuệ - Đáy là kết quả của quá trình xói mòn bề mặt lưu vực do lượng nước mưa xối xuống sông. Do vậy, vào mùa lũ lụt, hàm lượng cặn lơ lửng rất cao, đặc biệt là ở vùng đầu nguồn sông. Hàm lượng cặn lơ lửng trong nước sông Nhuệ - Đáy thay đổi rõ rệt theo mùa.
Mùa đông, TSS có giá trị thấp nhất, có lúc chỉ nằm trong khoảng 10 – 19 mg/L, trong khi đó, vào mùa mưa, TSS lên tới 480 mg/L tại thời điểm quan trắc, thậm chí còn cao hơn. Giá trị TSS trung bình trong nước sông Nhuệ - Đáy là 94 – 122 mg/L. Đây là chỉ tiêu cần quan tâm khi sử dụng sông Nhuệ - Đáy làm nguồn nước cấp cho sinh hoạt. Giá trị NTU max đo được là 250 NTU, giá trị min đo được là 9,7 NTU, giá trị trung bình là 79 – 127 NTU.
- Hàm lượng chất hữu cơ BOD và COD trong nước sông Nhuệ - Đáy tại một số đoạn tương đối cao so với tiêu chuẩn QCVN 08 – 2008/BTNMT áp dụng cho các nguồn cấp nước cho sinh hoạt. Kết quả nghiên cứu trước đây về hàm lượng chất hữu cơ trong nước sông Nhuệ - Đáy cho thấy nguồn gốc chủ yếu của các chất hữu cơ này là do xói mòn đất và chất thải công nghiệp xả xuống các lưu vực sông. Hiện tượng xói mòn chỉ xuất hiện vào mùa lũ, nhưng việc xả chất thải công nghiệp thì lại mang tính thường xuyên. Chỉ số CODCr đo được trong nước sông Nhuệ - Đáy khu vực Hà Nam khá cao: trung bình 13 – 13,9 mg/L.
Giá trị quan trắc lớn nhất đo được là 19,7 mg/L. Giá trị nhỏ nhất là 8,8 mg/L. Chảy qua địa phận Hà Nam, CODCr có xu hướng tăng thêm trung bình 0,9 mg/L, và có xu thế tăng dần qua các năm. Đây là vấn đề cần quan tâm khi khai thác nước sông Hà Nam để xử lí, cấp cho các mục đích sử dụng.
Cũng cần lưu y một điểm là kết quả quan trắc chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy theo chỉ tiêu COD(K2Cr2O7), trong khi chỉ số oxy hóa đối với nguồn nước và với nước cung cấp cho sinh hoạt được đánh giá theo COD(KMnO4). - Các chất dinh dưỡng có chứa nitơ và photpho như nitrat, nitrit, ammoniac và photphat trong nước sông Nhuệ - Đáy có xuất xứ từ hiện tượng xói lở, từ các hoạt động công nghiệp và nông nghiệp và từ chất thải sinh hoạt. Xói lở và các hoạt động nông nghiệp chỉ gây ảnh hướng tới chất lượng nước sông vào mùa Nghiên cứu áp dụng tuyển nổi áp lực trong công nghệ xử lý nước cấp với nguồn nước mặt sông Đáy Học viên thực hiện: Phạm Văn Ánh Cán bộ hướng dẫn: PGS. Nguyễn Việt Anh Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kỹ thuật Page 14 lũ, nhưng ảnh hưởng của chất thải công nghiệp và sinh hoạt thì quanh năm.
Vào mùa khô, lưu lượng nước sông thấp, do vậy tác động của riêng việc xả nước thải cũng gia tăng đáng kể. Tuy nhiên, số liệu quan sát cho thấy, ảnh hưởng của việc ô nhiễm chất dinh dưỡng đến chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy tại đoạn chảy qua khu vực Hà Nam là không đáng kể. - Nhìn chung, hàm lượng kim loại nặng trong nước sông Nhuệ - Đáy không đáng kể. Nguồn gốc của chúng chủ yếu là do thiên nhiên như xói lở, nước chảy từ trên mặt đất và quặng phân huỷ ở lưu vực sông.
Hàm lượng kim loại nặng trong chất thải công nghiệp rất thấp. - Theo số liệu quan trắc tại khu vực trong những năm gần đây lượng coliform trong nước sông Nhuệ - Đáy có xu hướng gia tăng. Vi khuẩn Coliforms có mặt trong nước có nguồn gốc từ nước thải sinh hoạt và từ các hoạt động trên sông như giao thông đường thuỷ, du lịch và đánh bắt cá. Các chỉ tiêu chất lượng nước về mặt vi sinh cần được kiểm soát trong các nhà máy xử lý nước nhờ quá trình làm trong nước (một phần) và công đoạn khử trùng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy - Môi trường nước mặt của lưu vực sông Nhuệ - Đáy đang chịu sự tác động mạnh mẽ của nước thải sinh hoạt, và các hoạt động công nghiệp,nông nghiệp và thủy sản trong khu vực. Hiện nay trên lưu vực, chất lượngnước nhiều đoạn sông bị ô nhiễm đến mức báo động. Nước sông bị ô nhiễm chủ yếu bởi các chất hữu cơ, dinh dưỡng, lơ lửng, mùi hôi độ màu và vi khuẩn đặc biệt vào mùa khô. Xu hướng ô nhiễm của nước sông trong khu vực ngày càng tăng.
Tuy nhiên, do lượng nước sông lớn, lượng nước thải nhanh chóng bị pha loãng và còn nằm trong giới hạn cho phép. - Sông Nhuệ bị ô nhiễm nghiêm trọng sau khi nhận nước từ sông Tô Lịch.