CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1. CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế. Trong phát triển KT-XH của một quốc gia hay một địa phương vấn đề quan trọng là phải xác định được một cơ cấu kinh tế (CCKT) hợp lý, khoa học.
Quá trình phát triển kinh tế luôn có những nhân tố tác động tạo ra sự chuyển dịch CCKT. Khi nghiên cứu về kinh tế, nhất là nghiên cứu để hoạch định chính sách phát triển KT-XH cần làm rõ về lý luận CCKT, chuyển dịch CCKT, từ đó làm rõ sự chuyển dịch CCKT ngành, chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng ngành. Hiện nay đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về cơ cấu kinh tế: + Cơ cấu KT là cấu trúc của nền KT bao gồm các bộ phần hợp thành là các ngành KT, các thành phần KT, các vùng KT được xắp xếp theo một thể thống nhất gắn bó hữu cơ với nhau. + Cơ cấu (structure) được dùng để chỉ về cách tổ chức, cấu tạo, sự điều chỉnh các yếu tố tạo nên một hình thể, một vật, một bộ phận, sau này khái niệm cơ cấu được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học, trong đó có các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc gia.
+ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.Mark: CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, quá trình phát 5 triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của xã hội. Như vậy, có thể hiểu: CCKT là tổng thể các mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế tương ứng với những điều kiện KT-XH trong một thời kỳ nhất định. Xét về mặt chất, thì CCKT là các quan hệ gắn bó giữa các yếu tố kinh tế trong một chỉnh thể thống nhất. Về mặt lượng, đó là quan hệ tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, quốc gia về nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực. Thuật ngữ "cơ cấu kinh tế" vận dụng không chỉ ở góc độ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân mà còn vận dụng ở phạm vi một địa phương, một ngành, một lĩnh vực nào đó của KT-XH. Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Đó chính là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Do sự phân công lao động xã hội các ngành trên hình thành và phát triển tương đối độc lập với nhau, nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau. Trong từng ngành lại phân thành những phân ngành. Việc hình thành mỗi quan hệ và tỷ lệ giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dụng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Phân loại cơ cấu kinh tế : cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế được nghiên cứu phân tích dưới các góc độ khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, CCKT theo vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, đây là ba bộ phận cơ bản hợp thành CCKT và có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế giữ vị trí chủ yếu trong CCKT của mọi quốc gia.
Một là, Cơ cấu thành phần kinh tế: gắn với chế độ sở hữu về TLSX, sở hữu về TLSX hình thành nên cơ cấu thành phần kinh tế. Tùy theo phương thức sản xuất mà có thành phần kinh tế chiếm địa vị chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh tế khác cùng tồn tại trong nền kinh tế. Hai là, Cơ cấu các vùng kinh tế: là cấu trúc của nền kinh tế xét trên giác độ vùng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ cấu các vùng kinh tế có ý nghĩa hết sức quan 6 trọng trong việc khai thác và phát huy tiềm năng và lợi thế kinh tế của từng địa phương, từng vùng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế chung của đất nước Ba là, Cơ cấu ngành kinh tế: là tổ hợp các nhóm ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu các ngành kinh tế phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế. Trong hệ thống các phân hệ cơ cấu kinh tế thì cơ cấu các ngành kinh tế vẫn là quan trong nhất, nó được coi là bộ xương cấu thành nền kinh tế. Một cơ cấu ngành hợp lý sẽ là điều kiện để nền kinh tế tăng trưởng, phát triển. Cơ cấu ngành kinh tế gồm ba nhóm ngành chủ yếu là: - Nhóm ngành khai thác tài nguyên (khu vực I): bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp, khai thác quặng mỏ khoáng sản, trong đó nông nghiệp là ngành chủ yếu.
- Nhóm ngành công nghiệp (khu vực II): bao gồm công nghiệp và xây dựng. - Nhóm ngành dịch vụ (khu vực III ): bao gồm thương mại, dịch vụ, bưu chính viễn thông. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế không phải là nhất thành bất biến mà nó luôn luôn trong quá trình vận động, biến đổi, chịu sự chi phối của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu ngành kinh tế không cố định.
Đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác theo xu hướng phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển được gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải được dựa trên cơ sở một cơ cấu 7 hiện có, do đó thực chất của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dụng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cho cơ cấu cũ, nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Như vậy, mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhằm hướng tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ phát triển. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội của mối quốc gia. Đó là biện pháp cơ bản để tạo ra nhiều việc làm, sản xuất ra nhiều của cải, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, tăng thêm giá trị hàng hoá xuất khẩu, qua đó góp phần đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Chuyển dịch CCKT là quá trình biến đổi cả về số lượng và chất lượng các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế, gắn liền với đó là sự thay đổi về mối quan hệ giữa các yếu tố đó.
Xét về bản chất, chuyển dịch CCKT chính là sự chuyển dịch về số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành CCKT, là sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác phù hợp với môi trường phát triển của nền kinh tế. Chuyển dịch CCKT chính là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế hướng sự phát triển nền kinh tế theo các mục tiêu KT-XH đã được xác định trong từng thời kỳ phát triển của mỗi quốc gia, địa phương. Hiện nay, các nước trên thế giới và nhất là các nước đang phát triển đều thực hiện việc điều chỉnh CCKT, thông qua việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, tăng cường xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường nhằm chủ động thúc đẩy chuyển dịch CCKT đạt được mục tiêu đề ra, rút ngắn giai đoạn phát triển để theo kịp các nước công nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Việt Nam từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm ưu thế bước vào thời kỳ công nghiệp hóa phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Một cơ cấu các ngành kinh tế được coi là hiện đại trong bối cảnh 8 khoa học công nghệ hiện nay phải đáp ứng được yêu cầu: Trong cơ cấu GDP, tỷ trọng của ngành dịch vụ tăng nhanh nhất, thứ đến là tỷ trọng ngành công nghiệp và cuối cùng tỷ trọng ngành nông nghiệp sẽ phải giảm nhanh nhất. Quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi được thể hiện khá rõ nét trong quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế. Việc chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế trước hết được bắt đầu từ sự thay đổi về lượng bên trong của các bộ phận cấu thành cơ cấu các ngành kinh tế.
Sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất. Bản thân cơ cấu các ngành kinh tế cũng không ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, chuyển hóa lẫn nhau: cơ cấu cũ dần dần chuyển sang cơ cấu mới và rồi sau một thời gian nhất định cơ cấu mới lại được thay bằng cơ cấu khác hoàn thiện hơn và ở trình độ cao hơn. Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế trong quá trình đô thị hóa tất yếu dẫn đến thay đổi vị trí của các ngành trong CCKT. Cơ cấu nền kinh tế của mỗi quốc gia cấu thành theo 3 ngành tổng hợp gồm: Công nghiệp, nông nghiệp - xây, dịch vụ.