Chương 1: Lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Tỉnh Thanh Hoá từ 2001 - 2007 3 z Chương 3: Quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới. CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1.1 Cơ cấu kinh tế 1.1 Khái niệm Với sự phát triển không ngừng của LLSX đã thúc đẩy phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc hơn. Các ngành, lĩnh vực được phân chia theo tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật. Khi các ngành, lĩnh vực kinh tế ấy được hình thành, chúng không đứng độc lập với nhau mà luôn tác động qua lại lẫn nhau, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau trong quá trình tồn tại và phát triển.
Sự phân công và mối quan hệ hợp tác giữa các bộ phận cấu thành trong một hệ thống kinh tế thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành CCKT. Đến nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về CCKT, tuỳ theo quan điểm và mục đích nghiên cứu. Song có thể tổng hợp một số cách tiếp cận cơ bản sau đây: Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: "CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành"[23, tr. Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội, C.
Mác đã viết: "CCKT của xã hội là toàn bộ những QHSX phù hợp với tính chất và quá trình phát triển nhất định của LLSX vật chất"[1, tr. Như vậy, theo quan điểm của C. Mác, CCKT có cấu trúc bao gồm: Những yếu tố gắn với LLSX (quan hệ giữa họ với tự nhiên và kỹ thuật) và các nội dung của QHSX (quan hệ giữa người với người trong quá trình tái sản xuất xã hội) hợp thành.Mác cũng nhấn mạnh, khi phân tích CCKT phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng. Theo Ông, cơ cấu là một sự phân chia về chất và một tỷ lệ về số lượng của quá trình sản xuất xã hội.
Theo cách tiếp cận hệ thống, CCKT hiểu một cách đầy đủ là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua 4 z lại lẫn nhau trong những khoảng không gian và thời gian nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, phù hợp với mục tiêu được xác định của nền kinh tế. Rõ ràng, cách tiếp cận này đã phản ánh được bản chất của CCKT, đó là: CCKT là tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia. CCKT bao gồm số lượng, tỷ trọng các nhóm ngành và các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Trong CCKT, giữa các nhóm ngành luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng hướng vào mục tiêu xác định.
CCKT không chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa các ngành mang tính cố định hay khuôn mẫu, mà luôn biến đổi tuỳ thuộc vào điều kiện không gian và thời gian xác định. CCKT không thể cố định lâu dài mà cần có sự thay đổi thích hợp (tương thích) với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi đất nước, địa phương, qua đó hình thành nên một CCKT hợp lý để có thể cho phép khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực hiện có nhằm tạo ra sự phát triển cân đối và bền vững. Kế thừa các quan niệm trên, có thể đi đến định nghĩa về CCKT như sau: CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.2 Các tính chất cơ bản của một cơ cấu kinh tế Để nhận thức đúng đắn quá trình hình thành và xu thế biến đổi khách quan của CCKT, trên cơ sở đó tìm ra luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế sát thực với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, địa phương trong mỗi giai đoạn nhất định, cần làm rõ một số tính chất chủ yếu sau đây của CCKT. Một là, cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan CCKT được hình thành trên cơ sở phát triển không ngừng của LLSX và phân công lao động xã hội, do vậy mà nó mang tính khách quan.
Khi ấy, tất yếu nền kinh tế sẽ hình thành nên một CCKT với tỷ lệ cân đối tương ứng giữa các bộ phận, tỷ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến 5 z khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng yêu cầu đó. Mác: “Trong sự phân công xã hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tranh khỏi, một sự tất yếu thầm kín yên lặng …”[2, tr. Trên thực tế, CCKT chính là sự biểu hiện tóm tắt, cô đọng nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay địa phương trong từng giai đoạn nhất định. Việc xây dựng một CCKT hợp lý phải tuân theo các quy luật kinh tế khách quan, không được áp đặt chủ quan, tự đặt ra cho các ngành những vị trí, tỷ lệ không phù hợp với nhu cầu thực tế và xu thế phát triển của xã hội.
Mọi sự áp đặt chủ quan, nóng vội nhằm nhanh chóng tạo ra một CCKT theo ý muốn thường dẫn đến những hậu quả khôn lường, bởi lẽ sai lầm về CCKT là sai lầm lớn về chiến lược, rất khó có thể khắc phục hậu quả. Hai là, cơ cấu kinh tế mang tính chất lịch sử - xã hội cụ thể Sự biến đổi của CCKT luôn gắn liền với sự thay đổi không ngừng của LLSX, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị - xã hội của từng thời kỳ. CCKT được hình thành khi quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được xác lập một cách cân đối và sự phân công lao động xã hội diễn ra một cách hợp lý. Sự vận động và phát triển không ngừng của LLSX là xu hướng phổ biến ở mọi quốc gia.
Song, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn lịch sử, ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau. Sự khác nhau đó bị chi phối bởi QHSX, đặc trựng văn hoá - xã hội, các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc … Ngay như ở những nước có hình thái kinh tế - xã hội giống nhau, song cũng có sự khác nhau trong việc hình thành CCKT, bởi vì các điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội và quan điểm chiến lược ở mỗi nước là khác nhau. Do vậy, sự hình thành CCKT chẳng những mang tính khách quan mà còn mang tính lịch sử - xã hội cụ thể. Điều đó đòi hỏi chủ thể quản lý nền kinh tế là Nhà nước không chỉ cần có khả năng nhận thức đúng đắn các quy luật kinh tế mà còn biết cách vận dụng chúng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước.
Muốn vậy, Nhà nước cần đánh giá chính xác các nguồn lực hiện có ở trong nước và ngoài nước, tìm ra phương thức khai thác có hiệu quả các nguồn lực ấy trên cơ 6 z sở phát huy lợi thế so sánh của đất nước để hình thành nên một CCKT hợp lý nhằm không ngừng nâng cao sức sản xuất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là trong điều kiện quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày càng diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc. Ba là, cơ cấu kinh tế có tính động Theo quan điểm của Triết học Mác-xít, mọi sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng. Do vậy, CCKT cũng không thể nằm ngoài quy luật biến đổi khách quan đó. Khi một CCKT được hình thành nó cũng có sự ổn định tương đối, nhưng bên trong nó luôn có sự biến đổi không ngừng cho phù hợp sự biến đổi của LLSX và phân công lao động xã hội.
LLSX ngày càng phát triển, con người ngày càng văn minh, khoa học kỹ thuật - công nghệ ngày càng hiện đại, trình độ chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội ngày càng cao, tất yếu sẽ làm cho CCKT biến đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Khi đó, nó cho phép nền kinh tế khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực phát triển, nâng cao năng suất lao động, tạo ra khối lượng hàng hoá lớn với chất lượng ngày càng cao, chủng loại mẫu mã hàng hoá phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội. Trong một CCKT, các bộ phận hợp thành cũng luôn biến đổi và có tác động tương hỗ lẫn nhau, bộ phận kinh tế phát triển hơn sẽ có tác dụng như “đầu tàu" kéo các bộ phận kinh tế kém phát triển biến đổi theo. Khi các bộ phận kinh tế này tích luỹ đủ về lượng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất, và khi đó, một CCKT mới ra đời sẽ mang trong mình nhiều tính vượt trội hơn so với CCKT trước đó.
Tuy nhiên, CCKT không biến đổi một cách cơ học mà nó có tính ổn định tương đối trong một thời gian nhất định để đảm bảo cho sự phù hợp với quá trình hình thành và phát triển của nó một cách khách quan. Bởi vì, nếu có sự thay đổi thường xuyên, CCKT sẽ tạo ra sự bất ổn định trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, gây tổn thất cho nền kinh tế. Bốn là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình 7 z Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng luôn diễn ra theo quy luật phát triển từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến này càng hoàn thiện hơn. Sự biến đổi ấy dù diễn ra nhanh hay chậm cũng cần phải có một khoảng thời gian nhất định đủ để tích luỹ về lượng, tạo ra sự biến đổi về chất, sinh ra sự vật mới tiến bộ hơn.
Một CCKT mới ra đời không thể từ hư vô, mà nó là kết quả của sự biến đổi dần dần từ CCKT cũ trên cơ sở kế thừa những nhân tố còn phù hợp, đào thải những nhân tố lạc hậu và bổ sung thêm ngày càng nhiều những nhân tố tiên tiến hơn.