Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 6 z Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Thừa Thiên - Huế trong những năm đổi mới vừa qua Chương 3: Một số kiến nghị góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Thừa Thiên - Huế trong giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1.1 - CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1.1 - Khái niệm cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế 1.1 - Khái niệm cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế, nhìn dưới góc độ triết học duy vật biện chứng, là khái niệm dùng để chỉ cách thức, tính chất bên trong của một hệ thống kinh tế, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của hệ thống đó. Cơ cấu là thuộc tính mà bất kỳ một nền kinh tế nào cũng có. Cơ cấu kinh tế phản ánh tính chất, trình độ, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong của một nền kinh tế - theo đó, nền kinh tế được coi là một hệ thống có tính lịch sử trong một giai đoạn nhất định. Đó là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu không chỉ về số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố hợp thành - biểu hiện sự tăng trưởng của hệ thống mà còn là những mối quan hệ cơ cấu về chất giữa các yếu tố - biểu hiện sự phát triển của hệ thống.
Các Mác nói rằng: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy cũng hợp thành cơ cấu kinh tế xã hội”. Nhìn chung, cách tiếp cận về cơ cấu kinh tế thù rất đa dạng, song đều tập trung phân tích bản chất cơ cấu kinh tế, và thống nhất nhận thức ở một số điểm quan trọng: Một là, coi cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong hệ thống. Các quan hệ này không phải là quan hệ riêng lẻ mà là quan hệ tổng thể hữu cơ.
Các quan hệ đó không chỉ là quan hệ tỷ lệ về lượng mà còn có quan hệ về chất, quan hệ về cấu trúc bên trong. 7 z Hai là, cơ cấu kinh tế bao gồm các bộ phận cấu thành nền kinh tế, các nhóm ngành, các khu vực, các thành phần nằm trong hệ thống kinh tế quốc dân. Ba là, cơ cấu kinh tế biểu hiện trong những điều kiện không gian, thời gian, về tự nhiên, kinh tế xã hội nhất định. Với ý nghĩa đó, chúng tôi cho rằng nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, có rất nhiều bộ phận và kiểu cơ cấu hợp thành chúng, tùy theo cách tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống đó.
Sự vận động và phát triển của nền kinh tế quốc dân đã chứa đựng trong nó sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận, các kiểu cơ cấu. Vì vậy, cơ cấu kinh tế quốc dân là tổng thể hợp thành các bộ phận, các kiểu cơ cấu, trong mối quan hệ hữu cơ, tương tác lẫn nhau cả về số lượng và chất lượng, trong không gian, thời gian và những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Cơ cấu kinh tế là một phạm trù khách quan. Tính khách quan của cơ cấu kinh tế thể hiện ở chỗ, trình độ phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội quyết định sự hình thành cơ cấu kinh tế.
Một cơ cấu kinh tế như thế nào, xu thế chuyển dịch của nó ra sao phụ thuộc vào những điều kiện khách quan về tự nhiên, kinh tế, xã hội và thể chế chính trị nhất định. Tương ứng với những điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định, tất yếu có một cơ cấu kinh tế phù hợp. Điều đó thể hiện ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, mỗi điều kiện cụ thể đều có thể xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý. Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải đảm bảo được các yêu cầu sau đây: Thứ nhất, phản ánh được và đúng các quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội, đặc biệt là các quy luật kinh tế, như quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và các quy luật của tái sản xuất… Thứ hai, đảm bảo khai thác và giải phóng tối đa các tiềm năng, nguồn lực của cả nước, của ngành, địa phương và lãnh thổ, của các phương án kinh doanh… Thứ ba, sử dụng được ngày càng nhiều lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh giữa trong nước và nước ngoài, giữa các vùng và khu vực… Thứ tư, phản ánh được xu hướng phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, xu hướng toàn cầu hóa và thương mại quốc tế.
Thứ năm, đó là một cơ cấu kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Tóm lại, cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế đảm bảo được tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững và đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Nền 8 z kinh tế sẽ phát triển thuận lợi nếu cơ cấu kinh tế thực tế càng gần với cơ cấu kinh tế hợp lý. Mặt khác quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở từng giai đoạn đều chịu sự tác động của con người, trong đó sự tác động của cơ quan lãnh đạo là quan trọng nhất.
Những tác động đó đã làm thay đổi các quan hệ kinh tế - xã hội theo đó cơ cấu kinh tế được hình thành. Do vậy, con người trên cơ sở nắm vững và tôn trọng yêu cầu của các quy luật khách quan, có thể tác động điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngày càng gần với cơ cấu kinh tế hợp lý hơn.2 - Cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân chỉ được cụ thể hóa thông qua từng loại cơ cấu cụ thể. Theo các góc độ tiếp cận khác nhau, nền kinh tế có các loại cơ cấu cụ thể chủ yếu sau đây: cơ cấu kinh tế theo ngành, cơ cấu kinh tế theo vùng và cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế (hay đúng hơn là theo khu vực). Giữa các loại cơ cấu kinh tế đó có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau trong quá trình phát triển.
Và nhìn một cách kháI quát, cơ cấu kinh tế quốc dân là tổng thể các cơ cấu ngành, vùng và các thành phần kinh tế. Trong hệ thống các cơ cấu đó, cơ cấu ngành là quan trọng nhất. Vậy thế nào là cơ cấu ngành kinh tế? Theo chúng tôi, cơ cấu ngành kinh tế là tổng thể hợp thành các ngành của nền kinh tế quốc dân, trong mối quan hệ hữu cơ, tương tác lẫn nhau cả về số lượng và chất lượng trong không gian, thời gian và những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Cơ cấu ngành của nền kinh tế là tổ hợp của các ngành, hợp thành tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các ngành đó của nền kinh tế quốc dân.
Ngành kinh tế là tổng thể những hoạt động kinh tế giống nhau hoặc gần giống nhau của các đơn vị trong nền kinh tế quốc dân để sản xuất ra những sản phẩm hoặc dịch vụ có những đặc tính chung nhất định. Các ngành hợp thành trong nền kinh tế có thể phân loại dựa vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của nó, bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại, dịch vụ,v.v…Trong mỗi ngành lại bao gồm các phân ngành, như trong công nghiệp có cơ khí, điện lực, hóa chất,v.v…Hoặc có thể phân theo tính chất tác động vào đối tượng lao động, gồm: khối ngành khai thác (nông nghiệp, các ngành công nghiệp khai thác), khối ngành chế biến và khối ngành dịch vụ. Theo kinh nghiệm nhiều nước, để hoạch định chính sách phát triển, người ta còn phân loại ngành theo chu kỳ vận động của bản thân các ngành đó, gồm ngành mới ra đời và 9 z ngành sắp lặn; hoặc dựa vào vị trí, tầm quan trọng, xu thế vận động của nó, gồm ngành mũi nhọn, ngành then chốt và các ngành khác,v.v… Có thể có nhiều cách phân ngành khác nhau khi nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành. Song cho đến nay, có hai cách thức cơ bản thường được áp dụng, đó là phân ngành theo hệ thống “sản xuất vật chất” và phân ngành theo hệ thống tài khoản quốc gia.
Theo hệ thống sản xuất vật chất, các ngành kinh tế được phân làm hai khu vực: sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất. Khu vực sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất được chia thành các ngành cấp I. Các ngành cấp I lại được chia thành các ngành cấp II…Đặc biệt trong các ngành công nghiệp, người ta còn phân ra thành nhóm A và nhóm B. Theo hệ thống tài khoản quốc gia, các ngành kinh tế được phân thành 3 nhóm lớn là: nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ.
Ba ngành gộp này bao gồm 20 ngành cấp I. Các ngành cấp I lại được chia nhỏ thành ngành cấp II. Các ngành cấp II lại được phân nhỏ thành các ngành sản phẩm. Có nhiều mức phân ngành khác nhau, tùy theo mức độ gộp hay chi tiết hóa đến chừng nào mà có được một tập hợp các ngành tương ứng.
Với một cách phân ngành hợp lý và một đại lượng giá trị được chọn thống nhất có thể xác định được chỉ tiêu định lượng phản ánh một mặt của cơ cấu ngành, đó là tỷ trọng các ngành so với tổng thể các ngành của nền kinh tế. Loại chỉ tiêu định lượng này đã được sử dụng trong các nghiên cứu về phát triển liên quan đến cơ cấu ngành của nền kinh tế.2 - Chuyển dịch cơ cấu và quan niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự biến đổi, vận động, phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ, tương tác giữa chúng theo thời gian dưới tác động của những yếu tố kinh tế - xã hội của đất nước và quốc tế nhất định.