mở đầu và gây được tác động lan truyền trong nền kinh tế. Điều này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của từng bộ phận của nền kinh tế. Chuyểndịch CCNKT quận nội thành 1. Khái niệm chuyển dịch CCNKT Cơ cấu ngành kinh tế luôn biến đổi, vận động và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh “ tế là một quá trình có tính kế thừa, tiếp nối.
CCNKT thay đổi theo từng thời kỳ phát triển do các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế là không cố định. Nó bao gồm cả sự thay đổi về số lượng ngành, tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế cũng như tỷ trọng nội bộ 2 “Theo Nghị định 62/2011/NĐ-CP ngày 26/7/2011 của Chính phủ về thành lập thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, phường, thị trấn: Tiêu chí thành lập quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm “Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ - du lịch trong cơ cấu kinh tế đạt từ 90% trở lên”.” 13 ngành, vị trí và quan hệ giữa các ngành do sự xuất hiện nay mất đi của một số ngành ” và tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm ngành và phân ngành là không đều. “Quá trình cơ cấu ngành kinh tế thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác,theo hướng hoàn thiện hơn, phù hợp với sự phát triển của phân công LĐXH và phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển khoa học- công nghệ gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Nội dung chuyển dịch CCNKT Hình 1.1: Các mặt biểu hiện của quá trình chuyển dịch CCNKT - Thay đổi số lượng ngành: Khi một số ngành không còn phù hợp với xu thế phát triển chung của quy luật hoặc hạn chế bởi định hướng phát triển, có ngành bị triệt tiêu, biến mất khỏi hệ thống.
Bên cạnh đó, quá trình phát triển dẫn tới một số ngành xuất hiện tự nhiên theo quy luật hoặc được tạo điều kiện xuất hiện, nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể của quá trình phát triển. - Thay đổi tỷ trọng các ngành trong tổng thể: Tại bất kỳ giai đoạn nào của quá trình phát triển, các ngành luôn có điều kiện phát triển khác nhau, tốc độ phát triển khác nhau và quy mô khác nhau. Bên cạnh đó, chính sách kinh tế được thực hiện khiến một số ngành có điều kiệnphát triển tốt hơn, một số ngành thì không, dẫn đến quy mô giá trị và tỷ trọng các ngành thay đổi theo thời gian. 14 - Thay đổi tỷ trọng của các phân ngành trong mỗi ngành: Ở quy mô các phân ngành, tùy theo định hướng phát triển, các phân ngành cụ thể được tạo điều kiện, nhằm đầu tư tập trung các nguồn lực khan hiếm trên địa bàn vào việc phát triển các phân ngành có tính mũi nhọn, trọng điểm, trong khi các phân ngành khác với tiềm năng phát triển thấp hơn sẽ ít được quan tâm hơn.
Dẫn đến trong cùng một ngành, giữa các phân ngành có sự thay đổi về tỷ trọng, quy mô trong ngành. - Thay đổi vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa các ngành (phân ngành). Trong giai đoạn nhất định, các ngành có vị trí và vai trog rất khác nhau. Những ngành đang và sẽ trở thành chủ đạo khi có tiềm năng phát triển, phù hợp với xu thế chung.
Bên cạnh đó những ngành giảm dần vai trò, khi tiềm năng, lợi thế bị hạn chế, không phù hợp với quy luật… Đối với một quận nội thành, trong khi tỷ trọng Nông nghiệp ngày càng giảm, Dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GTSX, ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Dịch vụ có quan hệ tương hỗ với các ngành khác, một mặt, dịch vụ chịu nhiều ảnh hưởng từhoạt động của các ngành sản xuất; mặt khác, nó là nhân tố quan trọng cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Chuyển dịchCCNKT là tất yếu: Quá trình chuyển dịch CCNKT thể hiện rõ nét quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi. Chuyển dịch cơ cấu ngành bao hàm cả sự thay đổi về số lượng, tỷ trọng các ngành lẫn thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ giữa các phân ngành trong nội bộ ngành.
CCNKT thay đổi trước hết từ sự thay đổi của hoạt động sản xuất. Bởi sản xuất là giai đoạn cơ bản nhất, cũng là khâu mang tính động nhất. Thông qua quy luật cung – cầu, thị trường đặt ra cho sản xuất những nhu cầu mới về sản phẩm. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, sản xuất có sự thay đổi.
Bắt đầu từ công cụ, đối tượng lao động đi kèm với sự thay đổi của kỹ thuật, phương pháp lao động…đem lại sản phẩm mới. Cơ cấu sản xuất thay đổi, dẫn đến các yêu cầu mới về trao đổi, phân phối, dịch vụ và tiêu dùng; kích thích quá trình vận động và biến đổi mang tính dây chuyền. Sự thay đổi của sản xuất đẫn đến sự mở rộng của thị trường yếu tố đầu vào, tăng trưởng thị trường sản phẩm đầu ra, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội và kích thích nhu cầu tiêu dùng mới. Quy mô sản xuất thay đổi, đòi hỏi có sự mở rộng của hạ tầng, của các ngành cung ứng yếu tố đầu vào cũng như đầu 15 ra.
Sự thay đổi đó tác động ngược trở lại sản xuất, làm cho sản xuất hoàn thành nhiệm vụ nhanh hoặc chậm để lại tiếp tục cho chu kỳ sản xuất sau. Sự tác động qua lại làm cho cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch. Từ sự thay đổi của cơ cấu sản xuất dẫn đến thay đổi của toàn bộ cơ cấu kinh tế nói chung và CCNKT nói riêng. Nếu các ngành dịch vụ, hỗ trợ, phụ trợ sản xuất…không phát triển tương ứng thì tất yếu quá trình chuyển dịch xảy ra chậm, hoặc không thực hiện được, hoặc xảy ra khủng hoảng do sự lệch lạc, không ăn khớp giữa các ngành.
Ngược lại, khi các bộ phận, các ngành trong nền kinh tế có sự thay đổi phù hợp với cơ cấu sản xuất thì toàn bộ quá trình chuyển dịch cơ cấu diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. Chuyển dịch cơ cấu nói chung và CCNKT nói riêng có thể diễn ra theo tín hiệu của thị trường hoặc có sự can thiệp của nhà nước hoặc kết hợp cả hai. Chuyển dịch cơ cấu ngành theo tín hiệu của thị trường: quyết định đầu tư vào một ngành nào đó được thực hiện theo tín hiệu của thị trường và người đầu tư kỳ vọng hoạt động của họ sẽ có lợi nhuận. Khi hiệu quả thực tế không như mong đợi, dòng đầu tư lại chảy vào các ngành khác.
Một nguyên nhân của hiện tượng chuyển dịch kiểu này là do tồn tại thông tin bất đối xứng và phản ứng chậm từ phía cơ quan quản lý nhà nước, từ chính phủ đến chính quyền địa phương. Sự xuất hiện của thông tin bất đối xứng làm cho tín hiệu của thị trường trở nên thiếu chính xác, dẫn đến lựa chọn ngược. Chuyển dịch cơ cấu có chủ đích:nhằm thực hiện nhiệm vụ, nhắm tới mục tiêu “ xác định thông qua sự can thiệp, điều chỉnh tích cực của nhà nước; vì lợi ích kinh tế toàn xã hội. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển, trong đó ưu tiên các ngành mũi nhọn, qui hoạch ngành, thực hiện các chính sách vĩ mô nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành theo các mục tiêu đề ra.Trong phạm vi quyền hạn, chính quyền địa phương triển khai biện pháp hỗ trợ, trợ cấp như ưu đãi thuế, tín dụng, cũng có thể thắt chặt quản lý, hạn chế hoặc dừng cấp phép kinh doanh v.v…Nhà nước có thể can thiệp trực tiếp, như sử dụng tiềm lực kinh tế của mình (ví dụ thông qua các Doanh nghiệp Nhà nước và đầu tư Ngân sách Nhà nước) để thay đổi cơ cấu ngành.
” Trong điều kiện hiện nay, phần lớn chuyển dịch CCNKT ở các nước là có chủ đích và được định hướng; nhà nước can thiệp, điều chỉnh thông qua chính sách phát triển kinh tế, chính sách phát triển ngành, đầu tư công v.v… CCNKT quận nội thành, 16 dù chỉ là phạm vi nhỏ, luôn được theo dõi, quản lý và có sự tác động cần thiết của chính quyền địa phương, cụ thể là UBND quận và UBND Thành phố, nhằm đưa CCNKT quận chuyển dịch đúng hướng. Song, không vì thế mà quá trình chuyển dịch theo tín hiệu thị trường bị triệt tiêu, nó vẫn tồn tại ở bất kỳ nền kinh tế nào, bất kỳ quy mô kinh tế nào. Quá trình chuyển dịch CCNKT ở quy mô quận nội thành hay ở quy mô cả quốc gia chỉ diễn ra hiệu quả khi can thiệp của nhà nước mang tính tích cực, dựa trên quy luật của thị trường và không mang tính áp buộc, đi ngược lại những tín hiệu thị trường. Điều đó nói lên thực tiễn chuyển dịch CCNKT là một tiến trình phức tạp và không có hình mẫu chuyển dịch cơ cấu cố định.
Tính quy luật trong chuyển dịch cơ cấu ngành 1. Quy luật chuyển dịch chung CCNKT luôn vận động và biến đổi, quá trình chuyển dịch cơ cấu cũng vì thế, diễn ra không ngừng theo nguyên lý của sự phát triển từ thấp đến cao. Giữa các ngành kinh tế luôn tồn tại mối liên hệ gắn bó hữu cơ với nhau, biện chứng và thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau, tạo ra những điều kiện, tiền đề cho nhau trong quá trình phát triển. Quá trình sản xuất là khởi nguồn của sự chuyển dịch CCNKT; bắt đầu khi sản xuất cố gắng bắt kịp và thỏa mãn nhu cầu của thị trường.
Sự thay đổi của sản xuất, từ công cụ lao động, đối tượng lao động đi kèm với sự thay đổi của kỹ thuật, phương pháp lao động… đều nhằm tới mục đích thỏa mãn được mức nhu cầu cao hơn của thị trường, hay nói cách khác, tạo ra nhiều giá trị hơn. Sự khác biệt về xu hướng thay đổi nhu cầu thị trường và hạ tầng công nghệ kỹ thuật giữa các ngành, khiến cho sự thay đổi của quá trình sản xuất các ngành là không đồng đều, thể hiện rõ nhất ở năng suất lao động tính theo giá trị sản phẩm giữa các ngành. Chênh lệch về năng suất lao động, kéo theo sự dịch chuyển của các nguồn lực, trong đó có vốn, do sự thu hút của tỷ suất sinh lời cao hơn ở khu vực có năng suất lao động cao hơn. Về bản chất, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là sự chuyển dịch từ khu vực “ có năng suất lao động thấp sang khu vực có năng suất lao động cao hơn để tái cơ cấu lại nền kinh tế, nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực sản xuất để tạo ra tốc độ phát triển nhanh và bền vững.