CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm 1. Lao động Học thuyết về LĐ của chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: Lao động chính là hành động lịch sử vĩ đại mà con ngươì có được để tạo nên sự khác biệt bản chất giữa con người với thế giới loài vật, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.Mác viết: “ Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng mọi hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên. Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự nhiên…Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó, và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó.
Rõ ràng lao động sản xuất ra của cải vật chất là quá trình biểu hiện mang tính lịch sử của quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội. Theo đó, chủ nghĩa Mác đã chỉ ra lao động của loài người có 2 đặc trưng sau đây: Thứ nhất, Lao động của con người là một hoạt động có mục đích,“ Con người không chỉ làm biến đổi cái tự nhiên cung cấp; trong những cái do tự nhiên cung cấp, con người cũng đồng thời thực hiện cái mục đích tự giác của mình, mục đích ấy quyết định phương thức hành động của họ giống như một quy luật và bắt ý chí của họ phải phục tùng nó.”[5, 275] Con người vận dụng công cụ LĐ để tác động cải biến tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho con người. 6 Thứ hai, Việc sử dụng và sáng tạo những tư liệu lao động kết hợp với đối tượng lao động tạo ra các sản phẩm theo một mục đích đã được định sẵn là một nét đặc trưng riêng trong quá trình lao động của con người. Tóm lại, ta có thể khái quát: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu trong đời sống con người.
Hay LĐ là hoạt động hữu ích của con người nhằm sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cần thiết để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, của một nhóm người, của cả doanh nghiệp, của toàn xã hội. Lực lượng lao động Dân số của một quốc gia bao gồm dân số trong độ tuổi lao động và dân số ngoài độ tuổi lao động. Theo Luật lao động Việt Nam thì tuổi lao động là độ tuổi từ 15 đến hết 60 (đối với nam) và 55 (đối với nữ). Dân số trong độ tuổi lao động lại được chia làm hai bộ phận là dân số hoạt động kinh tế và dân số không hoạt động kinh tế.
Dân số hoạt động kinh tế là những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm, hoặc có nhu cầu và nỗ lực tìm kiếm việc làm, bao gồm cả những người thất nghiệp. Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội. Dân số không hoạt động bao gồm những người còn lại trong độ tuổi lao động mà không thuộc nhóm dân số hoạt động kinh tế.
Nhóm dân số này bao gồm : những người không có khả năng làm việc do ốm đau, tàn tật, mất sức kéo dài; những người nội trợ cho gia đình và không được trả công; học sinh, sinh viên trong độ tuổi lao động; những người không hoạt động kinh tế vì những lí do khác. Dân số hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi địa phương có thể bao gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động, song phần lớn vẫn là những người trong độ tuổi lao động. Do đó, đối tượng nghiên cứu chính của những nhà kế hoạch nghiên cứu về lao động việc làm vẫn là bộ phận dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động. Đó chính là lực lượng lao động.
Như vậy, LLLĐ (Lực lượng lao động) của một quốc gia hay một địa phương 7 là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động, có mong muốn lao động, đang có việc làm hoặc đang tìm việc làm. LLLĐ bao gồm những người có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm (gọi là những người thất nghiệp). Nguồn lao động (nguồn nhân lực) Theo ILO, Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Theo tổng cục thống kê Việt Nam, Nguồn lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao dộng nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc tình trang khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi theo qui định của Luật Lao Động). Như vậy, khái niệm nguồn lao động rộng hơn khái niệm LLLĐ, nó không những bao gồm LLLĐ mà còn bao gồm cả một bộ phận dân số từ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động, kể cả những người đang học, nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc hoặc trong tình trạng khác.
Cơ cấu lao động Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu cho rằng: Cơ cấu biểu thị cấu trúc của một hệ thống, gồm nhiều bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; cơ cấu biểu hiện mối quan hệ về tỷ trọng giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể hoặc là tỷ lệ 8 giữa các bộ phận với nhau, bộ phận này tăng thì bộ phận kia giảm và ngược lại.[1] Như vậy, vận dụng quan điểm trên ta có thể đưa ra khái niệm: Cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế, thể hiện tỷ trọng của từng yếu tố lao động theo các tiêu thức khác nhau trong tổng thể hoặc tỷ lệ của từng yếu tố so với một yếu tố khác được tính bằng phần trăm. Về phân loại, có hai loại cơ cấu lao động được xem xét, đó là: Cơ cấu cung lao động và cơ cấu cầu lao động. -Cơ cấu cung lao động được xác định qua các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu số lượng, chất lượng của nguồn lao động, như vậy để xác định cơ cấu cung lao động chúng ta cần phải xác định được: những người bước vào độ tuổi lao động, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, nhưng chưa có việc làm; những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, chưa có việc làm và có nhu cầu làm việc; nhưng người có nguy cơ bị mất việc làm và trình độ học vấn của nguồn lao động. Mặt khác khi nghiên cứu cung lao động chúng ta cần phải quan tâm đến chất lượng lao động cần phải biết được những thông tin: Họ tên, tuổi, giới tính, tình trạng sức khoẻ, chỗ ở; trình độ đào tạo, khả năng và sở thích của mỗi người lao động; nhu cầu làm việc, đây là vấn đề quyết định đến năng suất lao động, hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
-Cơ cấu cầu lao động được xác định bằng các tỷ lệ lao động theo ngành, vùng, khu vực, thành phần kinh tế, tình trạng việc làm,. Khi xác đinh cơ cấu cầu lao động chúng ta sẽ xác định được: các đơn vị hành chính từ cấp xã phường thị trấn; các đơn vị sử dụng lao động như các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động số việc làm trong nền kinh tế quốc dân và lao động làm việc trong các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế giúp cho việc hoạch định phát triển các vùng kinh tế, các ngành kinh tế, không bị cản trở bởi vấn đề nguồn lao động bị mất cấn đối. Đồng thời tạo ra sự chuyên môn hoá cao giữa các ngành, các vùng, thực hiện sự phân công lao động hợp lý. Mặt khác, cơ cấu cầu lao động xác định được: số lao động đang được sử dụng, số chỗ làm việc còn trống và yêu cầu đối với người lao động khi đảm đương công việc ở chỗ làm việc trống đó, 9 số lượng người thất nghiệp và có việc làm định hướng để có các chính sách phát triển, đầu tư hợp lý với cơ cấu lao động, làm cho cơ cấu kinh tế phù hợp với cơ cấu lao động, giảm số người thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động.
Dưới cơ chế nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ cấu lao động hình thành chủ yếu là do sự áp đặt của nhà nước thông qua phân công bố trí lao động xã hội, theo kế hoạch sản xuất từ trên giao xuống. Trong cơ chế thị trường thì cơ cấu lao động được hình thành chủ yếu thông qua quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động tổng thể và khu vực. Tuy vậy, vai trò của Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng và điều tiết thông qua những chính sách phát triển kinh tế, để có được cơ cấu lao động hợp lý, phủ hợp với cơ cấu kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Về nguyên tắc, cơ cấu lao động phải phù hợp với cơ cấu kinh tế vì nó phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế và trình độ văn minh của xã hội.
Vì thế, theo quy luật phát triển không ngừng của xã hội mà cơ cấu lao động luôn biến đổi, đó là sự chuyển dịch cơ cấu lao động.