CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế PTKT là sự tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong đó chuyển dịch CCKT thể hiện mặt chất trong quá trình phát triển. Chính vì thế, khi nghiên cứu quá trình PTKT, dù của một quốc gia, một địa phương, của thành thị hay NT thì đều không thể không xem xét vấn đề chuyển dịch CCKT.
Đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra những lý thuyết khác nhau về chuyển dịch CCKT trong quá trình phát triển.S (1988) và Syrquin M (1988) là những tác giả tiêu biểu đã có đóng góp lớn trong hoàn thiện các quan điểm, khái niệm về chuyển dịch CCKT. Trong nghiên cứu của mình, các tác giả cho thấy mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong quá trình phát triển cần phải tìm cho mình những cách chuyển dịch CCKT một cách hiệu quả trên cơ sở phát huy được yếu tố nội lực, lợi thế so sánh và tận dụng được những lợi thế từ bên ngoài. Đối với các nước đang phát triển, vấn đề quan trọng là phải làm thế nào để chuyển nền kinh tế từ NN truyền thống lạc hậu sang nền kinh tế với ngành CN và ngành DV hiện đại làm nòng cốt. Bản thân khu vực NT cũng cần có sự chuyển dịch cơ cấu, đẩy mạnh nâng cao năng suất lao động (NSLĐ) NN và phát triển các ngành nghề phi NN.
Quá trình chuyển dịch CCKT từ NN truyền thống lạc hậu sang DV và CN hiện đại là một quá trình dài với nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nhiều các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các quan điểm khác nhau về các giai đoạn phát triển này. Rostow (1960) với Các giai đoạn PTKT có thể coi là nhà kinh tế đầu tiên nêu ra lý thuyết về chuyển dịch CCKT thông qua 5 giai đoạn phát triển của nền kinh tế ứng với 5 dạng CCKT. (1) Giai đoạn xã hội truyền thống với cơ cấu NN nghiệp là chủ đạo.
(2) Giai đoạn chuẩn bị cất cánh bắt đầu khi KHCN được đưa vào ứng dụng trong SX với cơ cấu ngành NN-CN. (3) Giai đoạn cất cánh, cơ cấu là CN-NN-DV với ngành CN chế tạo là đầu tầu. Đây được coi như giai đoạn then chốt nhất của quá trình phát triển nhằm tích lũy nguồn lực cả về vốn và lao động. (4) Giai đoạn trưởng thành, CCKT CN-DV-NN với nhiều ngành CN mới phát triển.
Ngành CN đã chuyển dần từ các ngành CN sử dụng nhiều lao động ở giai đoạn chuẩn bị cất cánh sang các ngành CN sử dụng nhiều vốn. 12 Ngành NN bắt đầu được cơ giới hóa mang lại năng suất cao, nhu cầu thương mại quốc tế tăng nhanh. (5) Giai đoạn tiêu dùng cao có cơ cấu ngành DV-CN, xã hội phát triển với đa số dân cư đô thị, thu nhập cao, giàu có dẫn đến sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và DV cao cấp. Trong nghiên cứu của mình, ông cũng nhấn mạnh rằng mọi quốc gia đều cần phải trải qua 5 giai đoạn này mà không thể bỏ qua bất kỳ giai đoạn nào.
Qua mỗi giai đoạn, CCKT dịch chuyển theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Theo lý thuyết này, các nước đang phát triển như Việt Nam đang nằm trong giai đoạn 2 hoặc 3, riêng khu vực NT có thể nói mới chỉ ở giai đoạn 2. Về mặt CCKT, phải bắt đầu hình thành được những ngành CN chế biến có khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (TTKT). Như vậy, trong chính sách CCKT nói chung và CCKT NT nói riêng, cần xét đến trật tự ưu tiên phát triển những ngành, lĩnh vực có khả năng đảm trách vai trò đầu tàu kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau.
Từ nghiên cứu này của Rostow, Johnston B.W (1961) đã cụ thể hóa hơn quá trình phát triển khu vực NN NT thành 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn chuẩn bị cho sự phát triển NN. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn tăng hiệu suất của quá trình SX NN thông qua việc tiết kiệm vốn và gia tăng lao động. Đây là giai đoạn khi dân số tăng cao, nhu cầu lương thực lớn trong khi vốn đầu tư cho NN còn hạn chế.
Cuối cùng là giai đoạn phát triển NN dựa vào kỹ thuật “cần nhiều vốn” và “tiết kiệm lao động”, thực hiện CNH NN. Tỷ trọng NN trong cơ cấu ngành sẽ giảm dần trong giai đoạn thứ 3 này, thay vào đó là sự phát triển của các ngành phi NN. Nghiên cứu cho rằng việc XD một nền NN vững mạnh và năng động là hết sức quan trọng trong quá trình chuyển dịch CCKT vì đây là một nhân tố quan trọng thúc đẩy CN phát triển, từ đó tạo động lực cho TTKT. Cũng nghiên cứu nền kinh tế phát triển theo các giai đoạn nhưng Syrquin M (1988) lại chia quá trình phát triển đó ra thành 3 giai đoạn: (1) SX NN, (2) Công nghiệp hóa (CNH), và (3) nền kinh tế phát triển.
Trong giai đoạn 1, các ngành khai thác, đặc biệt là NN đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhưng do NSLĐ thấp nên tốc độ TTKT chậm dẫn đến tỷ lệ tích lũy và đầu tư thấp. Bước sang giai đoạn 2, khu vực NN với NSLĐ thấp dần được thay thế bởi khu vực chế biến, mức độ đóng góp của khu vực này ngày càng tăng nhanh trong nền kinh tế. Sự dịch chuyển này không chỉ phụ thuộc vào khả năng tích lũy mà còn phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên và chính sách ngoại thương của mỗi quốc gia. Quá trình chuyển từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 có thể thấy được từ cả phía cung và cầu của nền kinh tế.
Đây là lúc hệ số co 13 giãn của cầu hàng hóa CN theo thu nhập bắt đầu có dấu hiệu chững lại, tỷ trọng của khu vực CN trong cơ cấu cầu nội địa bắt đầu giảm xuống, khu vực DV dần trở thành khu vực quan trọng nhất trong CCKT. Về phía cung, mức độ đóng góp của hai yếu tố lao động và vốn SX cũng bắt đầu giảm, thay vào đó là sự gia tăng nhanh và dần giữ vai trò chủ đạo của yếu tố năng suất tổng hợp TFP (Total Factor Productivity). Quá trình dịch chuyển giữa các giai đoạn này cũng cho thấy NSLĐ của các khu vực có sự thay đổi rất lớn. Nếu như ở giai đoạn 1, khu vực NN là một khu vực có NSLĐ rất thấp thì sang giai đoạn thứ 3, khu vực này lại là khu vực có NSLĐ cao nhất.
Mặc dù chỉ chiếm 1% trong tổng dân số nhưng những nông dân Mỹ vẫn có thể cung cấp đủ lượng lương thực cho cả nước này. Như vậy cả nghiên cứu của Johnston B.W (1961) và nghiên cứu của Syrquin M (1988) đều cùng chung quan điểm khi cho rằng muốn chuyển dịch CCKT, điều quan trọng là cần nâng cao NSLĐ của khu vực NN. Thông qua lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của mình, Syrquin đã vẽ nên một bức tranh tổng thể khá chính xác về sự phát triển và chuyển dịch CCKT trên thế giới thời kỳ hiện đại. Đồng thời cũng cho thấy, mỗi quốc gia, mỗi địa phương cần phải biết phát huy nội lực và những lợi thế của mình trong việc thực hiện chuyển dịch CCKT.
Một điều quan trọng khi xem xét chuyển dịch CCKT là cần xác định được các nhân tố tác động đến quá trình dịch chuyển đó. Nhiều tác giả lỗi lạc như Smith A.M (1936) đều tập trung vào thảo luận, phân tích về vai trò, tầm quan trọng của các yếu tố tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch CCKT như: vai trò của vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, KHCN, CCCS. Có thể coi đó là những quan điểm có giá trị nền tảng để các nhà nghiên cứu đi sau tiếp tục kế thừa và phát triển. Trong nhiều nghiên cứu sau này, KHCN và nhu cầu thị trường được đánh giá là có vai trò quan trọng thúc đẩy cho sự chuyển dịch của CCKT.
Fisher (1935) đã xem xét tác động của KHCN và xu hướng tiêu dùng hàng hóa của người dân ở 3 khu vực NN, CN và DV. Ông nhận thấy, khi KHCN phát triển, máy móc dần thay thế cho sức lao động của con người. Tuy nhiên, sự thay thế lao động này diễn ra không đồng đều giữa các khu vực. NN là khu vực dễ thay thế lao động nhất, tiếp đến là CN và cuối cùng, khu vực DV là khó thay thế lao động nhất.
Trong khi đó, cầu các hàng hóa lại thay đổi theo quy luật tiêu dùng của Engel: cầu về hàng hóa thiết yếu (hàng hóa NN) có xu hướng giảm dần, thay vào đó là nhu cầu về các hàng hóa lâu bền (hàng hóa CN), đặc biệt là sự tăng nhanh nhu cầu về hàng hóa cao cấp (hàng hóa DV). Kết quả là cùng với sự phát triển của KHCN và sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng đã làm cho 14 CCKT dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng của ngành NN, tăng dần tỷ trọng của ngành DV và CN. Cùng quan điểm đó, Kuznets S. (1988) đều cho rằng chuyển dịch CCKT có mối liên hệ chặt chẽ với nền kinh tế tri thức và sự phát triển của KHCN.
Thậm chí Kuznets còn chỉ rõ: tiến bộ công nghệ đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình chuyển dịch CCKT.M và Richard M (1996), Streeck W. (1988) và Frenkel S (1988) cũng nhận định những năm 1980 và 1990 là quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra trên quy mô toàn thế giới và quá trình này đã có tác động lớn đến cơ cấu SX của nhiều nền kinh tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và nhu cầu hội nhập kinh tế, vai trò của công nghệ thông tin cũng ngày càng trở nên quan trọng đối với quá trình phát triển và chuyển dịch CCKT của mỗi quốc gia. Các học giả Spreng D.
I (1994) đều khẳng định thông tin là một trong những nhân tố cơ bản phục vụ cho quá trình SX, giúp các đơn vị kinh tế và nhà quản lý tiết kiệm chi phí và thời gian trong đánh giá và đưa ra quyết định. Thông tin đóng vai trò định hướng cho quá trình tăng trưởng và chuyển dịch CCKT của từng quốc gia. Một số nhà kinh tế như Veronika D và Césaire M (2002), Levine R (1997) lại nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa tài chính, tăng trưởng và chuyển dịch CCKT. Các tác giả đều cho rằng sự phát triển tốt của khu vực tài chính có những ảnh hưởng mạnh mẽ và tích cực đến tăng trưởng và chuyển dịch CCKT, bởi nó góp phần tăng khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động SX.