mở đầu CNH nền kinh tế. Thời điểm tiến hành CNH và thời gian ở các nước cũng không giống nhau. Ở Anh CNH diễn ra hơn 200 năm. Đối với các nước phát triển đang đi vào giai đoạn hậu công nghiệp.
Thực tiễn lịch sử cho thấy: để khắc phục những hạn chế, đẩy mạnh phát triển và đi đến thủ tiêu tình trạng lạc hậu về KT-XH, khai thác tối ưu nguồn lực, lợi thế và bảo đảm nhịp độ tăng 10 trưởng nhanh, ổn định, bền vững thì mỗi quốc gia phải xác định CCKT hợp lý, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế. Vì vậy, tiến hành quá trình CNH, HĐH nền kinh tế là một tất yếu khách quan. Do mỗi các quốc gia có những đặc điểm KT-XH riêng, do đó quá trình CNH, HĐH có những nét riêng. CNH, HĐH là một quá trình lâu dài, phức tạp, song CNH, HĐH có một số vấn đề cơ bản là: - CNH thực chất là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho các ngành kinh tế quốc dân, trước hết tập trung vào các ngành chủ đạo của nền kinh tế.
Trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ phát triển nhanh, mạnh như hiện nay, việc thực hiện CNH trang bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành kinh tế phải gắn với quá trình HĐH. Quá trình này đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp, cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách công nghiệp hiện đại. CNH, HĐH tác động mạnh mẽ, làm cho tốc độ phát triển kinh tế nhanh, bền vững; thu hẹp khoảng cách về trình độ KT-XH giữa các vùng trong một quốc gia và với các nước phát triển. Hiện đại hóa là mục tiêu phải đạt tới của CNH.
Trong điều kiện nhân lực dồi dào, trình độ quản lý còn hạn chế, nguồn vốn đầu tư có hạn, muốn phát triển vững chắc thì phải có bước đi thích hợp, ưu tiên HĐH các ngành, lĩnh vực quan trọng để thúc đẩy phát triển các ngành khác, khẳng định vị thế quốc tế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. - CNH là quá trình diễn ra sâu, rộng và toàn diện trên tất cả các ngành, lĩnh vực KT-XH của quốc gia, mỗi địa phương. CNH, HĐH vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình KT-XH. Kết quả của CNH, HĐH sẽ khắc phục và tiến tới thủ tiêu tình trạng lạc hậu về KT-XH, nâng cao dân trí, mức sống của dân cư, đưa xã hội đạt trình độ văn minh công nghiệp.
Kinh tế - kỹ thuật và KT-XH là hai quá trình không thể tách rời. Kinh tế - kỹ thuật tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật để thực hiện các nội dung KT-XH và ngược lại KT- XH tạo động lực thực hiện quá trình kinh tế - kỹ thuật. 11 - CNH còn là quá trình mở rộng quan hệ quốc tế, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng, mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế hóa đời sống kinh tế là xu thế phát triển tất yếu khách quan. Mỗi nước trở thành một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới, tác động và chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau.
- Về nguyên tắc thực hiện, CNH phải phát huy nội lực là yếu tố quyết định, phát huy lợi thế so sánh của đất nước để tham gia tích cực vào quan hệ kinh tế quốc tế. Song trong bối cảnh quốc tế ngày nay, việc tranh thủ sự trợ giúp về tài chính, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý. của quốc tế là yếu tố rất quan trọng để CNH, HĐH. Tuy vậy, đây là yếu tố hỗ trợ, chứ không phải là yếu tố thay thế, yếu tố quyết định.
- CNH là phương thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi quốc gia. Song nghiên cứu thực tiễn CNH, HĐH ở các nước trên thế giới đều có những mục tiêu tương đồng. Đó là: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên; tập trung phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, ổn định, cải thiện đời sống của dân cư. CNH là quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo ra sự chuyển biến đột phá, căn bản về KT-XH của mỗi quốc gia trên cơ sở khai thác có hiệu quả nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng CCKT với trình độ khoa học - công nghệ ngày càng hiện đại.
Những yêu cầu đặt ra về chuyển dịch CCKT trong quá trình CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ nhanh, toàn diện, đúng hướng, muốn vậy phải quán triệt các yêu cầu sau: - Yêu cầu chuyển dịch CCKT trên cơ sở trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho các ngành, lĩnh vực của kinh tế quốc dân, trước hết là các lĩnh vực trọng yếu; chuyển dịch CCKT trong quá trình CNH, HĐH phải được 12 hiểu là quá trình chuyển dịch CCKT - kỹ thuật gắn với quá trình KT-XH đồng thời gắn với quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Trong chuyển dịch CCKT phải hết sức coi trọng nhân tố khoa học và công nghệ, tập trung thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, hóa học và sinh học hóa. - Chuyển dịch CCKT tạo sự thúc đẩy phân công lao động, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh giữa các địa phương, các vùng và cả nước. Kết quả của sự chuyển dịch CCKT làm cho sản xuất hàng hóa phát triển, mở rộng thị trường vốn, thị trường công nghệ, lao động, tài nguyên, hàng hoá, dịch vụ.
Chuyển dịch CCKT trong quá trình CNH, HĐH đòi hỏi sự chuyển dịch về số lượng, chất lượng với cơ cấu hợp lý; đòi hỏi phải có cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, đội ngũ chuyên gia, cán bộ hoạch định chính sách, các nhà doanh nghiệp, cán bộ KHKT, công nhân lành nghề. Nguồn nhân lực vừa là nội dung vừa là điều kiện giữ vai trò quyết định đối với quá trình phát triển, chuyển dịch CCKT cũng như đối với toàn bộ quá trình CNH, HĐH. Giai đoạn đầu rất cần quy mô nguồn nhân lực, sau đó cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch CCKT và quá trình CNH, HĐH. - Chuyển dịch CCKT trong quá trình CNH, HĐH gắn liền với vốn và công nghệ, đòi hỏi lượng vốn lớn để bảo đảm tính vượt trội, hơn hẳn công nghệ truyền thống.
Trên cơ sở phát huy nội lực để HĐH sản xuất, tiếp thu công nghệ mới, mở rộng và phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế, quan hệ kinh tế quốc tế để thu hút các dòng vốn và công nghệ trên thế giới để đẩy nhanh chuyển dịch CCKT và quá trình CNH, HĐH. Việt Nam là một nước nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, đang trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề chuyển dịch CCKT phải được đặc biệt coi trọng trong quá trình CNH, HĐH, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Chuyển dịch CCKT trong quá trình CNH, HĐH. Quá trình CNH là một quá trình toàn diện và đồng bộ, bao trùm tất cả các ngành, lĩnh vực hoạt động của một quốc gia.
Vì nền kinh tế là một hệ thống thống nhất các ngành, lĩnh vực liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, quá trình CNH, HĐH luôn gắn liền với quá trình chuyển dịch CCKT. Chính vì vậy, chuyển dịch CCKT là quá trình biến đổi cả về số lượng và chất lượng các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế, gắn liền với đó là sự thay đổi về mối quan hệ giữa các yếu tố đó. Xét về bản chất, chuyển dịch CCKT chính là sự chuyển dịch về số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành CCKT, là sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác phù hợp với môi trường phát triển của nền kinh tế.
Chuyển dịch CCKT chính là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt: CCKT ngành, CCKT vùng, cơ cấu thành phần kinh tế hướng sự phát triển nền kinh tế theo các mục tiêu KT-XH đã được xác định trong từng thời kỳ phát triển của mỗi quốc gia, địa phương. Chuyển dịch CCKT phải dựa trên cơ cấu hiện có, cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu, không còn phù hợp, bổ sung, xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Sự chuyển dịch này theo quy luật vận động biện chứng, từ sự biến đổi lượng dẫn đến chuyển hóa về chất lượng của nền kinh tế. Hiện nay, các nước trên thế giới và nhất là các nước đang phát triển đều thực hiện việc điều chỉnh CCKT, thông qua việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, tăng cường xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường nhằm chủ động thúc đẩy chuyển dịch CCKT đạt được mục tiêu đề ra, rút ngắn giai đoạn phát triển để theo kịp các nước công nghiệp.
Chuyển dịch CCKT của nước ta hiện nay được thực hiện theo định 14 hướng giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ trong tổng giá trị sản phẩm quốc dân. Quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi được thể hiện khá rõ nét trong quá trình chuyển dịch CCKT. Việc chuyển dịch CCKT trước hết được bắt đầu từ sự thay đổi về lượng bên trong của các bộ phận cấu thành CCKT. Sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất.
Bản thân CCKT cũng không ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, chuyển hóa lẫn nhau: cơ cấu cũ dần dần chuyển sang cơ cấu mới và rồi sau một thời gian nhất định cơ cấu mới lại được thay bằng cơ cấu khác hoàn thiện hơn và ở trình độ cao hơn. Chuyển dịch CCKT trong quá trình CNH tất yếu dẫn đến thay đổi vị trí của các ngành trong CCKT. Cơ cấu nền kinh tế của mỗi quốc gia cấu thành theo 3 ngành tổng hợp gồm: Nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ. Chuyển dịch CCKT ở các nước đang phát triển diễn ra theo xu hướng sau: - Giai đoạn đầu nông nghiệp giữ vị trí hàng đầu, là hoạt động kinh tế cơ bản, tạo ra hàng hóa tiêu dùng thiết yếu và bảo đảm điều kiện cho phát triển công nghiệp.