CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN BEN VUNG VÀ CHỈ SO PHÁT TRIEN BEN VUNG 1. Khái niệm phát triển bền vững Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yêu. Tư duy về phát triển bền vững bat đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bat ồn trong xã hội. Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de Janeiro đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, phát triển bền vững được xác định là: “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”.
Nội hàm về phát triển bền vững nay đã được tái khang định và bé sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: "Phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Về nguyên tắc, phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, én định, văn hoá da dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững. Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả “ba thé chân kiềng” kinh tế, xã hội, môi trường. Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ.
Tóm lại, phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng vẫn đảm bảo đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (WCED, 1987). Phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là quá trình phát triển kinh tế, là sự gia tăng về quy mô sản lượng mà còn là phát triển mang tính bền vững, bảo đảm sự tiên bộ vê co câu kinh tê, xã hội va sự cân băng của môi trường sinh thái. Nội dung của phát triển bền vững Như đã đề cập ở trên, phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình điện phát triển. Chính vì vậy, có 3 nội dung trong đánh giá phát triển bền vững của một vùng: Thứ nhất, phát triển bền vững về kinh tế là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng.
Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đăng. Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất ca mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người. Khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản: Một là, giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết kiệm và thay đổi lối sống; Hai là, thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường; Ba là, bình đăng trong tiếp cận các nguồn tai nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục; Bốn là, xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; Năm là, công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lượng đã sử dụng). Nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau: (1) Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao.
Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghéo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế. (2) Cơ cấu GDP cũng là tiêu chí đánh giá phát triển bền vững về kinh tế. Chỉ khi ty trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững.
(3) Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá. Thứ hai, phát triển bền vững về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hai hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tang trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn. Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh.
Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được. Phát triển bền vững về xã hội gồm một số nội dung chính: Một là, én định dân sé, phát triển nông thôn dé giảm sức ép di dân vào đô thi; Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa; Ba là, nâng cao học vấn, xóa mù chữ; Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa; Năm là, bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; Sáu là, tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định. Thứ ba, phát triển bền vững về môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới,.
đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bén vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tổ tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.
Khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống. Phát triển bền vững về môi trường đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất. Phát triển bền vững về môi trường gồm những nội dung cơ bản: Một là, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; Hai là, phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; Ba là, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ tang ôzôn; Bốn là, kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; Năm là, bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; Sáu là, giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, lương thực thực phẩm), cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm. Những yếu tố tác động tới phát triển bền vững Để quá trình phát triển bền vững của một vùng địa phương đạt hiệu quả, có ba yếu tô chính tác động tới toàn bộ quá trình này.
Thứ nhất là các bước lập kế hoạch phát triển của vùng địa phương đó. Làm lồng ghép mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các tỉnh một cách hiệu quả sẽ giúp gia tăng các chỉ số bền vững về các khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường của tỉnh. Tại cuộc hội thảo nghiên cứu lồng ghép mục tiêu Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh vào Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được tổ chức mới đây, đại diện ban nghiên cứu cho biết đã có một số chương trình được lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp tỉnh nhưng vẫn còn nhiều tồn tại khi thực hiện. Ngay trong quy trình lồng ghép giữa các chương trình này vào kế hoạch cấp tỉnh, khoảng thời gian cho việc lập kế hoạch bị hạn chế và thường dựa trên nhưng bản kế hoạch có sẵn từ nhiều năm trước.
Phương pháp tính toán các chỉ tiêu phát triển bền vững hay chỉ tiêu xanh cũng chưa có sự thống nhất. Nội dung các kế hoạch trên gắn với kế hoạch ngân sách còn yếu. Điển hình như với chiến lược sản xuất sạch hơn, Thông tư liên tịch giữa Bộ Công Thương và Bộ Tài chính đã hướng dẫn trình tự lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công quốc gia và địa phương áp dụng cho các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hon. Nhưng theo đại điện Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương, thông tư không nêu được định mức nên không có cơ sở cho địa phương phân bổ ngân sách.
Theo phân tích của Ban Nghiên cứu, nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng này là thiếu văng khung pháp lý cho công tác kế hoạch.