Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu vực nông thôn giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội tại Việt Nam, là nơi bảo tồn các giá trị truyền thống và là nguồn cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho toàn xã hội. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nông nghiệp và nâng cao đời sống nông dân là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Xây dựng nông thôn mới (NTM) không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật mà cốt lõi là phải khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng đó để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo chuyển biến tích cực trong cơ cấu kinh tế (CCKT) tại từng địa phương. Nếu quá trình xây dựng NTM không đi kèm với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với xu thế phát triển thì cần phải đánh giá lại các mục tiêu và định hướng triển khai.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thị trấn Thịnh Long trong xây dựng NTM" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng xây dựng NTM tại thị trấn Thịnh Long, phân tích những thuận lợi, khó khăn và kết quả đạt được; nhận diện tiềm năng, thế mạnh của địa phương để xác định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả chương trình xây dựng NTM trên địa bàn thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
  2. Mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
    • Nhiệm vụ 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
    • Nhiệm vụ 2: Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trên địa bàn thị trấn Thịnh Long.
    • Nhiệm vụ 3: Đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thị trấn Thịnh Long trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
    • Phạm vi thời gian: Số liệu thống kê, thực tế được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2017 – 2019, cập nhật số liệu 6 tháng đầu năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quan điểm kinh tế học phát triển và các chủ trương, đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước Việt Nam:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Khái niệm về kinh tế nông thôn và NTM theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xác định NTM là khu vực có kết cấu hạ tầng từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa.
    • Phân loại cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm: cơ cấu ngành (nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ), cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế hộ gia đình/tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân).
    • Xu hướng chuyển dịch CCKT: Chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường; chuyển từ thuần nông sang phát triển nông - lâm - thủy sản kết hợp; chuyển dịch theo hướng phát triển nông thôn tổng hợp giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ.
    • Tiêu chí phản ánh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: Cơ cấu giá trị sản phẩm (GDP/tổng giá trị sản xuất), cơ cấu lao động việc làm, cơ cấu hàng xuất - nhập khẩu, và cơ cấu vốn đầu tư theo ngành.
    • Các nhân tố ảnh hưởng: Tiến bộ khoa học - công nghệ, trình độ phân công lao động xã hội, cơ chế và dung lượng thị trường, chất lượng và quy mô nguồn nhân lực, vốn đầu tư, cùng tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (tác động từ các cam kết quốc tế theo Văn kiện Đại hội X, các hiệp định FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA).
    • Tổng quan kinh nghiệm quốc tế: Mô hình phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" (OVOP) tại tỉnh Oita, Nhật Bản; phong trào "Làng mới" (Saemaul Undong) của Hàn Quốc giai đoạn 1971–1980; và kinh nghiệm phát triển thủy lợi, điện khí hóa nông thôn, chế biến nông sản xuất khẩu tại Thái Lan.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, báo cáo chuyên đề của địa phương.
    • Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh chuỗi số liệu theo thời gian (2017 – 2019 và 6 tháng đầu năm 2020).
    • Phương pháp phân tích thực địa và quan sát thực tế tại các tổ dân phố, làng nghề và doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ, số liệu thống kê của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

Chương 1 tập trung hệ thống hóa các vấn đề mang tính lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chương trình xây dựng nông thôn mới. Tác giả chỉ rõ việc xây dựng NTM và chuyển dịch CCKT có tác động tương hỗ: phát triển các ngành kinh tế tiềm năng tạo nguồn lực tài chính để đầu tư hạ tầng NTM, ngược lại, hạ tầng NTM hoàn thiện tạo điều kiện nền tảng để thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn.

Nội dung chương phân tích sâu 4 chỉ tiêu then chốt để đo lường chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (cơ cấu giá trị, cơ cấu lao động, cơ cấu xuất nhập khẩu, cơ cấu vốn đầu tư) và 6 nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến tiến trình này. Đồng thời, tác giả khái quát thực trạng chuyển dịch CCKT nông thôn Việt Nam với xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp thuần túy, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, song vẫn còn điểm nghẽn về quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạ tầng chế biến bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế, liên kết chuỗi giá trị chưa bền vững. Chương 1 khép lại bằng bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản (nguyên tắc "hành động địa phương, suy nghĩ toàn cầu"), Hàn Quốc (huy động sức dân chiếm 49,4% tổng vốn đầu tư, đổi mới phương thức canh tác kết hợp xây dựng nhà máy nông thôn), và Thái Lan (tập trung chế biến sâu hàng thủy sản xuất khẩu, mở rộng bảo hiểm rủi ro nông nghiệp).

Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trên địa bàn thị trấn Thịnh Long trong xây dựng nông thôn mới

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng chuyển dịch các ngành kinh tế tại thị trấn Thịnh Long sau khi đạt chuẩn NTM từ năm 2013 và tiếp tục nâng cao tiêu chí đô thị loại IV.

Về kinh tế tổng thể, giá trị sản xuất và tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN), xây dựng, dịch vụ, thương mại và du lịch liên tục tăng trưởng qua các năm, thể hiện rõ xu thế công nghiệp hóa địa phương:

Chỉ tiêu theo dõi Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Tổng giá trị sản phẩm (tỷ đồng) 647,5 710,0 745,0
- CN - TTCN, Xây dựng, Du lịch, Dịch vụ 412,0 (63,6%) 480,0 (67,6%) 573,65 (77,0%)
- Nông nghiệp, Thủy hải sản 235,5 (36,4%) 230,0 (32,4%) 171,35 (23,0%)
Thu nhập bình quân đầu người (triệu đồng/năm) - > 50,0 55,18
Tỷ lệ lao động Nông - Ngư nghiệp (%) 49,5% 45,4% 38,6%
Tỷ lệ lao động CN - TTCN, Dịch vụ, Du lịch (%) 50,5% 54,6% 61,4%

Các kết quả nổi bật trong từng ngành nghề cụ thể được ghi nhận:

  • Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Làng nghề: Phát triển trên 50 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tập trung và hàng trăm hộ cá thể, thu hút gần 4.000 lao động. Làng nghề dệt lưới cước Minh Châu có 10 doanh nghiệp sản xuất sợi PE và dệt lưới giã cào, dây giềng (đường kính 0,21 - 3,6 cm), tạo việc làm trực tiếp cho hơn 300 lao động (thu nhập 7 - 15 triệu đồng/người/tháng) và hơn 500 hộ gia công tại nhà (thu nhập 5 - 6 triệu đồng/hộ/tháng). Tiêu biểu như Công ty TNHH Minh Hà đầu tư hơn 100 tỷ đồng máy móc hiện đại, sản xuất 80 - 90 tấn lưới/tháng. Ngành chế biến hải sản có 6 doanh nghiệp lớn (Công ty CP Chế biến hải sản Nam Định với bể chượp 3.000 tấn, thu mua 1.000 tấn sứa biển, 150 tấn tôm tép từ 400 tàu thuyền để sản xuất 700 nghìn lít nước mắm 15 - 34 độ đạm, 30 - 40 tấn mắm tôm) cùng 5 cơ sở chế biến mắm truyền thống.
  • Nông nghiệp và Thủy sản: Năm 2019, giá trị khai thác và nuôi trồng thủy hải sản đạt 136 tỷ đồng, chiếm 79,37% tổng giá trị nông - thủy sản (gấp gần 4 lần giá trị trồng trọt và chăn nuôi). Trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng sản lượng khai thác đạt trên 1.000 tấn (thu nhập trên 68 tỷ đồng), diện tích ao đầm đạt 72,26 ha (ao nước ngọt 49,36 ha, ao nước mặn 23,5 ha) thả nuôi hơn 60 triệu con giống.
  • Hạ tầng đô thị - NTM và Xã hội: 22/22 Tổ dân phố (TDP) giữ vững danh hiệu NTM bền vững; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 89,21%; không còn hộ nghèo vào năm 2019; tuyến đường khu du lịch Thịnh Long nối tỉnh lộ 488 rộng 21m thảm bê tông nhựa asphalt cơ bản hoàn thành; dự án nâng cấp tỉnh lộ 488 đạt trên 80% khối lượng thi công sau khi tái định cư cho 19 hộ tại các TDP số 7, 9, 10, 11, 17.

Hạn chế và thách thức được tác giả chỉ ra gồm: nông nghiệp chuyển dịch chậm, hơn 90% lao động nông - thủy sản chưa qua đào tạo chuyên sâu; hơn 70% thanh thiếu niên đi làm ăn xa khiến lực lượng sản xuất nông nghiệp bị già hóa; diện tích đất ven biển tiềm năng nuôi thủy sản vẫn dùng trồng hoa màu năng suất thấp; máy móc chế biến nước mắm truyền thống xuống cấp, thiếu công nghệ cao; tình trạng ô nhiễm môi trường và vi phạm đất đai còn phức tạp.

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thị trấn Thịnh Long trong xây dựng nông thôn mới

Dựa trên phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế (các FTA thế hệ mới, dịch bệnh Covid-19, Cách mạng công nghiệp 4.0) và mục tiêu phấn đấu đến năm 2023 có 100% TDP đạt NTM kiểu mẫu, năm 2024 hoàn thành thị trấn NTM kiểu mẫu và đến năm 2025 hoàn thiện hạ tầng đô thị loại IV, chương trình giải pháp được xây dựng gồm 5 nhóm chính:

  1. Rà soát quy hoạch, điều chỉnh cơ cấu sản xuất: Chuyển đổi diện tích đất trồng lúa và hoa màu kém hiệu quả ven biển sang nuôi trồng thủy sản công nghệ cao (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá nước ngọt); chuyển chăn nuôi nhỏ lẻ sang mô hình công nghiệp, bán công nghiệp khép kín chuỗi giá trị; giảm khai thác thủy sản ven bờ, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ gắn với bảo quản sau thu hoạch trên tàu.
  2. Nâng cao năng lực cán bộ và phát triển nguồn nhân lực: Bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạch, giám sát cho cán bộ quản lý NTM; triển khai đào tạo nghề theo Đề án 1956 nhằm cung cấp lao động kỹ thuật cao cho làng nghề và các vùng nuôi thủy sản thâm canh; khuyến khích thanh niên khởi nghiệp tại địa phương.
  3. Đẩy mạnh phát triển nuôi trồng và chế biến thủy hải sản: Áp dụng thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (VietGAP/chứng nhận), xây dựng vùng nuôi thâm canh ứng dụng công nghệ sinh học; phát triển công nghiệp chế biến sâu, chế biến tinh nhằm tăng giá trị gia tăng thay vì xuất khẩu thô.
  4. Đầu tư nghiên cứu sản phẩm và mở rộng thị trường: Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm đặc thù (nước mắm Thịnh Long, sứa biển, lưới cước PE); kết nối doanh nghiệp chế biến với đội tàu đánh bắt và các hộ gia công; tổ chức xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm.
  5. Hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và bảo vệ môi trường: Đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng dọc tỉnh lộ 488; kiên cố hóa hệ thống thủy lợi, kênh mương cấp 2, cấp 3; nâng cấp trạm biến áp, lưới điện phục vụ sản xuất công nghiệp và nuôi trồng thủy sản; xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa được sự biến động thực tế của cơ cấu kinh tế thị trấn Thịnh Long giai đoạn 2017 – 2019. Số liệu chứng minh tỷ trọng ngành phi nông nghiệp (CN - TTCN, xây dựng, dịch vụ) tăng từ 63,6% (năm 2017) lên 77,0% (năm 2019), trong khi nông nghiệp giảm từ 36,4% xuống 23,0%. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tăng tương ứng từ 50,5% lên 61,4%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 55,18 triệu đồng/năm, thị trấn xóa bỏ hoàn toàn hộ nghèo.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Đưa ra khung hành động cụ thể cho địa phương từ khâu quy hoạch chuyển đổi đất canh tác kém hiệu quả sang thủy sản, hiện đại hóa làng nghề dệt lưới cước Minh Châu, đến lộ trình đạt chuẩn NTM kiểu mẫu vào năm 2024.
  • Đóng góp của tác giả: Khóa luận gắn kết lý luận chuyển dịch CCKT với đặc thù kinh tế biển của một thị trấn ven biển tỉnh Nam Định, chỉ rõ mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng cơ học của ngành tiểu thủ công nghiệp với sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong nông nghiệp tại chỗ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu sử dụng chủ yếu các số liệu thống kê hành chính thứ cấp và phương pháp mô tả định tính, chưa thực hiện các mô hình hồi quy định lượng nhằm đo lường mức độ tác động của từng nhân tố chính sách đến thu nhập của từng nhóm hộ; phạm vi nghiên cứu giới hạn tại một đơn vị hành chính cấp xã/thị trấn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát định lượng vi mô về hiệu quả kinh tế của mô hình chuỗi giá trị liên kết giữa doanh nghiệp dệt lưới cước/chế biến hải sản với các hộ gia công, hoặc đánh giá tác động môi trường sinh thái của việc mở rộng nuôi trồng thủy sản ven biển tại vùng đồng bằng sông Hồng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Quản trị công khi thực hiện khóa luận, đề án thực tập về xây dựng nông thôn mới và chuyển dịch cơ cấu ngành.
  • Phần nội dung giá trị: Số liệu thực tế về mô hình tổ chức làng nghề dệt lưới cước Minh Châu và các doanh nghiệp chế biến hải sản gắn liền với cảng cá Ninh Cơ (Chương 2) là tài liệu tham khảo thực tiễn hữu ích cho các nghiên cứu về công nghiệp hóa nông thôn ven biển.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu giá trị sản phẩm của thị trấn Thịnh Long chuyển dịch như thế nào trong giai đoạn 2017 – 2019?
Trong giai đoạn 2017 – 2019, tổng giá trị sản phẩm tăng từ 647,5 tỷ đồng lên 745,0 tỷ đồng. Trong đó, nhóm ngành CN - TTCN, xây dựng, du lịch, dịch vụ tăng từ 412 tỷ đồng (chiếm 63,6%) lên 573,65 tỷ đồng (chiếm 77,0%). Nhóm ngành nông nghiệp, thủy hải sản giảm tỷ trọng từ 36,4% xuống còn 23,0%.

2. Làng nghề dệt lưới cước Minh Châu đóng góp như thế nào cho kinh tế địa phương?
Làng nghề dệt lưới cước Minh Châu có 10 doanh nghiệp trực tiếp sản xuất sợi PE và dệt các loại lưới giã cào, dây giềng, giải quyết việc làm cho hơn 300 lao động tập trung (thu nhập từ 7 - 15 triệu đồng/người/tháng) và bao tiêu sản phẩm cho hơn 500 hộ gia công tại nhà với thu nhập 5 - 6 triệu đồng/hộ/tháng.

3. Hoạt động chế biến hải sản tại thị trấn Thịnh Long có quy mô ra sao?
Thị trấn có 6 doanh nghiệp chế biến hải sản và 5 cơ sở sản xuất mắm truyền thống. Tiêu biểu là Công ty CP Chế biến hải sản Nam Định sở hữu hệ thống bể chượp 3.000 tấn, liên kết với 400 tàu cá thu mua 1.000 tấn sứa biển và 150 tấn tôm tép/năm, cung ứng ra thị trường khoảng 700.000 lít nước mắm (15 - 34 độ đạm) và 30 - 40 tấn mắm tôm.

4. Khó khăn lớn nhất trong việc phát triển nông nghiệp và chuyển dịch lao động tại Thịnh Long là gì?
Hơn 90% lao động nông nghiệp là nông dân truyền thống, thiếu lao động trình độ cao (dưới 10%). Hơn 70% thanh thiếu niên rời địa phương đi làm ăn xa, dẫn tới tình trạng già hóa lao động nông nghiệp và hạn chế khả năng tiếp thu, ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản.

5. Mục tiêu và lộ trình xây dựng NTM kiểu mẫu của thị trấn Thịnh Long được xác định ra sao?
Thị trấn đặt mục tiêu đến năm 2023 có 100% tổ dân phố đạt danh hiệu TDP Nông thôn mới kiểu mẫu, đến năm 2024 hoàn thành các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2019 – 2025, và đến năm 2025 hoàn thiện hạ tầng đồng bộ theo tiêu chuẩn đô thị loại IV.

Kết luận

Báo cáo chuyên đề thực tập của sinh viên Trần Đình Thế đã phản ánh trung thực, có hệ thống bức tranh chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại thị trấn Thịnh Long giai đoạn 2017 – 2019 trong bối cảnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Kết quả phân tích cho thấy địa phương đã khai thác tốt lợi thế kinh tế biển và làng nghề tiểu thủ công nghiệp để chuyển dịch mạnh mẽ từ thuần nông sang công nghiệp, dịch vụ và du lịch, nâng cao thu nhập người dân và xóa đói giảm nghèo. Các giải pháp do tác giả đề xuất bám sát thực trạng địa phương, chú trọng vào quy hoạch nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, tạo cơ sở thực tiễn phục vụ mục tiêu đạt chuẩn NTM kiểu mẫu và đô thị loại IV.