Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỒNG MINH MỸ - PHILIPPINES TỪ NĂM 1992 TỚI NAY 1. Khái niệm liên quan tới quan hệ đồng minh Đồng minh là một hình thức tập hợp lực lượng quốc tế đã tồn tại từ lâu trong lịch sử thế giới, thường xuất hiện trong các hoàn cảnh xung đột và đối đầu trong quan hệ quốc tế. Đồng minh hay liên minh là sự cam kết chính thức giữa các quốc gia nhằm phối hợp hay tượng trợ lẫn nhau để đối phó với một vấn đề chung nào đó. Mục đích của liên minh là cộng sức mạnh của các nước trong liên minh để tạo được quyền lực cao hơn nhằm kiềm chế, cân bằng hoặc vượt hơn so với quyền lực của đối thủ.
Qua đó, lợi ích của từng thành viên cũng dễ được đảm bảo hơn.1 Quan hệ đồng minh thường được thiết lập bằng những thỏa thuận chính thức được ký kết giữa hai hay nhiều phía. Các chủ thể của quan hệ đồng minh không nhất thiết phải là một quốc gia được chính thức công nhận bởi cộng đồng quốc tế mà có thể là một vùng lãnh thổ có dân số, được cai trị bởi một cơ quan độc lập. Đồng minh thường chỉ xảy ra theo ba trường hợp chủ yếu: thứ nhất, nước lớn liên minh với nhau như các khối Liên Minh và Hiệp ước trong Chiến tranh thế giới lần I, hoặc phe Đồng minh hay phát xít trong Chiến tranh thế giới lần II; thứ hai, nước lớn liên minh với nước nhỏ hoặc ngược lại; thứ ba, nước nhỏ liên minh với nhau. Đây là những kiểu liên minh phổ biến trong quan hệ quốc tế.
Hầu hết sự hình thành các liên minh đều xuất phát từ những lý do lịch sử cụ thể, có mục tiêu cụ thể, vấn đề, mối đe dọa hoặc kẻ thù cụ thể. Các mục tiêu và vấn đề thường là chung bởi đó là lý do dẫn đến việc hình thành đồng minh hay còn được gọi là lý do tồn tại. Mục tiêu càng chung và càng lớn thì quan hệ đồng minh càng dễ hình thành và tồn tại. Kể từ sau Chiến tranh lạnh, các liên minh không còn được thiết lập trên nền tảng ý thức hệ mà chủ yếu dựa trên cơ sở lợi ích quốc gia.
1 Hoàng Khắc Nam (2011), Quyền lực trong quan hệ quốc tế - Lịch sử và vấn đề, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 236 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhìn chung, quyền lực có ảnh hưởng khá nhiều đến sự hình thành đồng minh, khi đó có thể là sự tự nguyện tham gia để tranh thủ quyền lực của nhau hoặc là sự bắt buộc khi bị ép bởi chính quyền lực của một nước nào đó. Với đa phần các trường hợp trong lịch sử đã cho thấy, quan hệ đồng minh hay liên minh hình thành dựa trên cơ sở tự nguyện thường dễ lâu dài hơn do các nước tìm thấy lợi ích nào đó của mình trong đó. Cũng vì yếu tố quyền lực, quan hệ đồng minh thường được tập hợp xung quanh hạt nhân nào đó mà thường là các nước lớn do khả năng chi phối quan hệ quốc tế của các cường quốc đó.
Đồng minh có nhiều loại, tùy theo vai trò, vị trí của chúng trong mối quan hệ đến sự sinh tồn và phát triển của quốc gia đó như thế nào. Trong đó, đồng minh chiến lược là những đồng minh có ảnh hưởng to lớn đến sự sinh tồn và phát triển của quốc gia, đe dọa đến sự mất còn của an ninh quốc gia. Các liên minh chiến lược Israel - Mỹ, hay liên minh chiến lược Mỹ - Nhật trong hơn nửa thế kỷ qua là những thí dụ thuyết phục.2 Ngoài ra, trong một số trường hợp nhất định, quan hệ đồng minh tự nhiên có thể được hình thành khi các chủ thể quan hệ quốc tế (thường là có sự gần gũi về lịch sử, địa lý, văn hóa…) vốn không có chủ đích liên minh với nhau mà cùng bị một yếu tố, một thế lực lớn nào đó thúc đẩy hoặc ép buộc phải bắt tay với nhau. Đối với thực tiễn quan hệ quốc tế, quan hệ đồng minh về quân sự - chính trị có ý nghĩa lớn.
Các quan hệ đồng minh này là sự cam kết và phối hợp giữa hai hay nhiều quốc gia để hỗ trợ lẫn nhau về an ninh và quân sự. Trong thời hiện đại, dù các quan hệ về kinh tế, văn hóa, xã hội cũng đóng vai trò không nhỏ trong các mối quan hệ đồng minh nhưng mặt quân sự - chính trị vẫn là lĩnh vực nổi trội và căn bản. Trong phạm vi luận văn này, quan hệ đồng minh Mỹ - Philippines chỉ tập trung vào các mặt an ninh, quân sự và quốc phòng. 2 Nguyễn Ngọc Dung (2013), Vấn đề đồng minh chiến lược của Việt Nam – một cái nhìn lịch sử, Tạp chí Phát triển khoa học & công nghệ, tập 16, số X2-2013 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Lợi ích chiến lược của Mỹ và Philippines trong việc thiết lập quan hệ đồng minh 1. Lợi ích chiến lược của Mỹ Kể từ sau Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha kết thúc, Mỹ đã tiếp quản thuộc địa Philippines từ tay Tây Ban Nha vào năm 1898; khống chế các lĩnh vực kinh tế, chính trị ở Philippines, xây dựng quốc đảo này thành thuộc địa với với vị trí chiến lược tại khu vực Đông Nam Á. Trong một khoảng thời gian dài, vì nhiều lý do lịch sử, kinh tế, văn hóa và chiến lược, Philippines có mối quan hệ mật thiết với Mỹ cũng như có chung một hệ tư tưởng. Philippines cũng là một trong những mặt trận của Mỹ và quân Đồng Minh trong Thế chiến thứ 2 với phát xít Nhật.
Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh tháng 9/1945, đến năm 1946, Mỹ đã công nhận Philippines là một quốc gia độc lập có chủ quyền và hai bên đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong số các quốc gia ở châu Á - TBD, Philippines là nước có hiệp ước đồng minh quân sự lâu đời nhất của Mỹ. Philippines luôn giữ vị trí quan trọng trong chiến lược của Mỹ ở châu Á, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh. Các mục đích trong chính sách của Mỹ đối với Philippines bao gồm: (i) duy trì liên minh Mỹ - Philippines; (ii) tăng cường an ninh và ổn định ở Biển Đông; (iii) trợ giúp Lực lượng vũ trang của Philippines (AFP) trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố, năng lực hàng hải, hiện đại hóa, và các nỗ lực cải cách hành chính; (iv) ủng hộ tiến trình hòa bình ở các khu vực Hồi giáo ở Mindanao; (v) thúc đẩy tăng trường kinh tế trên cơ sở rộng rãi hơn; và (vi) giúp đỡ Philippines phát triển các cơ chế dân chủ ổn định và thuận lợi hơn.3 Tất cả những mục đích trên nhằm biến Philippines thành một đồng minh mạnh mẽ của Mỹ ở Đông Nam Á, từ đó phục vụ cho những tính toán chiến lược của Mỹ tại khu vực.
Từ thời kỳ Chiến tranh lạnh, Philippines được xây dựng để trở thành một phần trong “chuỗi đảo thứ nhất” (The First Island Chain) – một chuỗi nối các căn cứ quân sự của Mỹ tại các nước đồng minh trong khu vực Đông Á nhằm đối phó với Liên Xô, Trung Quốc và chế độ cộng sản. (chuỗi đảo thứ nhất là Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Okinawa – Nhật Bản; chuỗi đảo thứ hai là đảo Guam, Hawaii, 3 Thomas Lum (2012), The Republic of the Philippines and U. Interests, CRS Report for Congress, April 5, p.3 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiện nay, các chuỗi đảo này phục vụ những tính toán chiến lược của Mỹ như sau: (i) Tạo ra một vành đai bảo vệ nước Mỹ lục địa và cung cấp bàn đạp gần Trung Quốc trong trường hợp cần can thiệp quân sự; (ii) Kết hợp giữa sự kế cận địa lý với Trung Quốc Đại lục và khả năng triển khai quân đội của Mỹ với các nước đồng minh, cho phép bao vây Trung Quốc bằng quân sự; (iii) Cấu trúc chuỗi đảo này chỉ tồn tại vài con đường hẹp cho Hải quân Trung Quốc thoát ra để tiến vào Thái Bình Dương.4 Năm 2003, Philippines được nâng lên thành một trong những đồng minh chính ngoài các nước thuộc Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization, NATO) của Mỹ; đồng nghĩa với việc Mỹ ngày càng đánh giá cao tầm quan trọng của Philippines và Philippines sẽ đủ điều kiện cho một mối quan hệ quân sự mật thiết hơn với Mỹ với nhiều quyền lợi hơn.
Hiện nay, với vị trí chiến lược án ngữ tại cửa ngõ của biển Đông; Philippines là bàn đạp quan trọng tạo điều kiện cho Mỹ quay trở lại và duy trì ảnh hưởng tại khu vực, qua đó cạnh tranh và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Lợi ích chiến lược của Philippines Kể từ năm 1898, lịch sử Philippines luôn có sự hiện diện của người Mỹ. Năm 1898, Philippines được Mỹ tiếp quản từ Tây Ban Nha. 1935, Philippines trở thành khối thịnh vượng chung và được trao quyền tự trị với thủ tướng là Manuel Quezon.
Trước đó, người Mỹ đã xây dựng một hội đồng lập pháp được điều hành bởi người Philippines, cũng như xây dựng các cơ chế chuyển giao nhằm hướng tới thành lập một Philippines độc lập. Năm 1946, Philippines chính thức là một quốc gia độc lập, tiếp tục kế thừa mối quan hệ vô cùng mật thiết với Mỹ. Qua các thời kỳ, mỗi khi cần giúp đỡ về các vấn đề lớn như an ninh quốc phòng hay phát triển đất nước, Mỹ luôn là lựa 4 Kapila, S. (2013) South China Sea Disputes: Strategic Implications and Perspectives On Conflict Resolution, báo cáo tại hội thảo “Chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - những khía cạnh lịch sử và pháp lý” tổ chức tại Quảng Ngãi, Việt Nam ngày 27/4/2013.
Đăng tải ngày 3/5/2013 tại http://www.org/node/1260 Truy cập ngày 10/12/2014 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chọn hàng đầu của Philippines. Ngày nay, mối quan hệ song phương giữa hai nước trải dài trên nhiều lĩnh vực, từ quốc phòng cho tới kinh tế - xã hội. Chính sách an ninh quốc gia giai đoạn 2011 - 2016 của Philippines nhấn mạnh, tăng cường các thỏa thuận và hợp tác an ninh với các nước đồng minh và láng giềng một trong 4 mục tiêu để Philippines đủ năng lực bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh hàng hải và những lợi ích chiến lược khác.