MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu xây dựng chương trình “Quản lý đào tạo” là một bài toán thực tế đã được đặt ra từ lâu trong các trường đại học nói chung và Học viện Kỹ thuật Quân sự nói riêng. Ở Học viện Kỹ thuật Quân sự, trước đây công việc này được làm thủ công đòi hỏi nhiều người tham gia làm việc và thông qua việc lưu trữ các thông tin bằng văn bản, giấy tờ. Với số lượng loại hình đào tạo ngày càng rộng, học viên, giáo viên, môn học ngày càng lớn làm cho công việc quản lý, tìm kiếm thông tin trở nên khó khăn và tốn thời gian mà hiệu quả làm việc lại không cao.
Công việc lập kế hoạch học kỳ, lập phiếu báo dạy, quản lý thời khoá biểu, quản lý hồ sơ, điểm của học viên, cũng như việc đáp ứng các nhu cầu của các cơ quan, đơn vị, cá nhân cần quan tâm trở nên chậm chạp và vất vả, dễ xảy ra việc thông tin không đầy đủ và kém chính xác, gây những hậu quả không mong muốn trong công tác đào tạo tại Học viện. Trước những yêu cầu cấp bách của thực tế, đòi hỏi phải đưa ra một biện pháp hữu hiệu khác có đủ khả năng đáp ứng các công việc trên một cách hiệu quả, nhanh chóng và chính xác. Đó là việc ứng dụng máy tính vào công tác quản lý và khai thác trong lĩnh vực đào tạo. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ TÍNH THỰC TIỄN Nghiên cứu phương pháp phân tích thiết kế hướng đối tượng cụ thể là hệ thống ký hiệu UML (Unified Modeling Language) và áp dụng UML để xây dựng hệ thống “Quản lý đào tạo”.
Từ đó góp phần cho việc ứng dụng UML để phát triển phần mềm ở Việt Nam. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Mô tả bài toán Quản lý đào tạo: Phát biểu bài toán “Quản lý đào tạo” Phương hướng giải quyết Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Ban z 13 Phân tích và thiết kế hệ thống Quản lý đào tạo: áp dụng phương pháp UML và công cụ hỗ trợ xây dựng các mô hình hướng đối tượng Rational Rose để giải quyết bài toán. Xác định các yêu cầu chức năng của hệ thống Phân tích hệ thống Thiết kế hệ thống Xây dựng và cài đặt hệ thống Quản lý đào tạo Lựa chọn ngôn ngữ cài đặt Cài đặt một số modul chính của hệ thống. Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Ban z 14 MÔ TẢ BÀI TOÁN “QUẢN LÝ ĐÀO TẠO” Trong chương này ta sẽ tìm hiểu bài toán “Quản lý đào tạo”, các khái niệm, quy trình hoạt động, quy tắc nghiệp vụ của hệ thống.
Từ đó, đưa ra những khó khăn, bất cập của hệ thống hiện thời và phương hướng giải quyết của hệ thống mới. KHẢO SÁT NGHIỆP VỤ “QUẢN LÝ ĐÀO TẠO” 1. Một số khái niệm và thuật ngữ Chương trình đào tạo Nội dung đào tạo trong toàn khoá học của từng ngành đào tạo được thể hiện thành chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo của mỗi ngành đào tạo do Học viện xây dựng trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
Chương trình khung gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bố thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập [3]. Chương trình đào tạo gồm các khối kiến thức Khối kiến thức đại học đại cương Khối kiến thức cơ sở chuyên ngành Khối kiến thức chuyên ngành Khối kiến thức khoa học xã hội và nhân văn Khối kiến thức quân sự chung Khối kiến thức quân sự chuyên ngành Trong đó Khối kiến thức đại học đại cương, quân sự chung, khoa học xã hội và nhân văn dùng chung cho các ngành đào tạo trong Học viện. Khối kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, quân sự chung thực hiện theo các quyết định đào tạo sỹ quan cấp phân đội, tạo mặt bằng học vấn theo yêu cầu đào tạo của Bộ Quốc Phòng nói chung và của học viện nói riêng. Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Ban z 15 Khối kiến thức cơ sở ngành dùng chung cho các chuyên ngành thuộc cùng gốc ngành.
Khối kiến thức chuyên ngành, quân sự chuyên ngành dùng riêng cho từng chuyên ngành. Các chương trình được tổ chức thành học phần, các học phần trong chương trình ban hành đều là bắt buộc. Các học phần tự chọn sẽ được định lượng theo quy định của Học viện. Mẫu biểu kế hoạch đào tạo toàn khoá của Học viện cho loại hình đào tạo cao đẳng tin học xem bảng 1 phần phụ lục.
Học phần Học phần là khối kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích luỹ trong quá trình học tập. Mỗi học phần có khối lượng từ 2 đến 5 đơn vị học trình (ĐVHT), được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Khối lượng ĐVHT trong mỗi học phần được Giám đốc Học viện duyệt trong khi duyệt chương trình đào tạo. Học phần có thể là một phần của môn học hoặc nhiều môn học.
Từng học phần phải được ký hiệu bằng một mã riêng do Học viện quy định [3]. Đơn vị học trình (ĐVHT) Đơn vị để tính khối lượng học tập của học viên là đơn vị học trình (ĐVHT). Một đơn vị học trình được quy định khoảng bằng 15 tiết học lý thuyết, bằng khoảng 30 đến 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, bằng khoảng 45 đến 90 tiết thực tập tại cơ sở hoặc bằng 45 đến 60 tiết làm tiểu luận, đồ án môn học hoặc đồ án tốt nghiệp [3]. Thời gian và kế hoạch đào tạo Học viện tổ chức đào tạo theo khoá học và năm học.
Khoá học là thời gian được thiết kế để học viên hoàn thành chương trình đào tạo của một ngành chuyên môn cụ thể. Đối với hệ đào tạo chính quy mỗi khoá học là 5 năm (không kể thời gian huấn luyện đào tạo nguồn sĩ quan). Riêng hệ chuyển cấp kỹ sư, căn cứ vào các học phần đã tích luỹ, đối chiếu với chương trình đào tạo Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Ban z 16 hệ 5 năm để quy định thời gian đào tạo. Thông thường thời gian đào tạo là 3 năm [3].
Khoá học được chia thành các năm học, mỗi năm học gồm có hai học kỳ. Học kỳ I: Bắt đầu học từ ngày 15 tháng 8 và kết thúc vào ngày 15 tháng 01. Tổ chức khai giảng năm học ngày 15 tháng 09. Học kỳ II: bắt đầu học ngày 19 tháng 01, kết thúc năm học ngày 15 tháng 07.
Nghỉ tết âm lịch 2 tuần. Nghỉ hè 3 tuần. Đầu khoá học, Học viện thông báo cho học viên về kế hoạch học tập, lịch trình, chương trình đào tạo toàn khoá của các ngành đào tạo, về quy chế học tập, kiểm tra, thi, đánh giá, xếp loại học tập và công nhận tốt nghiệp, về nghĩa vụ và quyền lợi của học viên, các quy định của Học viện. Đầu mỗi năm học, Học viện thông báo lịch học trong từng học kỳ, đề cương chi tiết của các học phần, điều kiện để được học tiếp; lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi các học phần (bằng thời khoá biểu).
Học viên phải đăng ký các học phần tự chọn với Phòng Đào Tạo. Mẫu biểu kế hoạch đào tạo năm học xem bảng 2 phần phụ lục. Mẫu biểu kế hoạch đào tạo học kỳ xem bảng 3 phần phụ lục. Giấy báo dạy Dựa vào kế hoạch học kỳ và việc ghép lớp học chung nhà trường trích ra các môn học mà khoa phải đảm nhiệm giảng dạy và gửi cho các khoa.
Đây gọi là giấy báo dạy, giấy báo dạy chứa các thông tin sau: học kỳ, năm học, khoa, mã môn học, tên môn học, số tiết, lớp học, quân số lớp. Mẫu biểu giấy báo dạy xem bảng 4 phần phụ lục. Phân công giảng dạy Dựa vào giấy báo dạy và khả năng, điều kiện của các giáo viên trong bộ môn mà từng bộ môn sẽ tiến hành phân công cho từng giáo viên đảm nhiệm dạy cho từng lớp sau đó gửi bảng phân công giảng dạy cho khoa để khoa tổng hợp gửi lên Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Ban z 17 Phòng đào tạo. Bảng phân công giảng dạy chứa các thông tin sau: học kỳ, năm học, thông tin bộ môn (tên, quân số, quân số giảng dạy, nhân viên hướng dẫn thí nghiệm), tên môn học, danh sách lớp học, quân số lớp, số tiết môn học (số tiết lý thuyết, bài tập, quy chuẩn), thông tin giáo viên (tên, cấp bậc, học hàm, học vị).
Mẫu biểu bảng phân công giảng dạy xem bảng 5 phần phụ lục. Kế hoạch giảng dạy môn học Sau khi phân công giảng dạy cho từng giáo viên trong từng khoa, khoa sẽ yêu cầu từng giáo viên đã được phân công giảng dạy trong học kỳ lập kế hoạch giảng dạy môn học mà giáo viên đó đảm nhiệm. Sau khi lập xong kế hoạch môn học kèm theo những yêu cầu, từng giáo viên sẽ gửi cho khoa để khoa thông qua và gửi cho Ban kế hoạch chương trình của nhà trường. Kế hoạch môn học chứa các thông tin sau: Học kỳ, năm học, môn học, tổng số tiết, phân chia số tiết cho các hình thức (lý thuyết, bài tập, thực tập), giáo viên phụ trách, phân chia ra các bài, đề mục và số tiết của các bài, đề mục, địa điểm học.
Mẫu biểu kế hoạch giảng dạy môn học xem bảng 6 phần phụ lục. Tất cả các kế hoạch thực hiện được Ban kế hoạch chương trình chuyển xuống cho Phòng đào tạo để triển khai việc thực hiện ngoài ra Phòng đào tạo còn dựa vào đó để thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện kế hoạch đào tạo đặt ra cho mỗi năm học. Các bộ phận tham gia công tác quản lý Phòng đào tạo: quản lý chương trình đào tạo (ban kế hoạch chương trình), quản lý quá trình học tập của học viên dân sự (ban tại chức) và quân sự, quản lý thời khoá biểu, Ban cán bộ: quản lý hồ sơ lý lịch của học viên quân sự, hồ sơ lý lịch của giáo viên, Các khoa và các bộ môn: quản lý giáo viên của khoa (bộ môn) mình, phân công giảng dạy cho từng giáo viên, quản lý kế hoạch môn học, Ban quản lý hội trường: quản lý các nhân viên tham gia quản lý hội trường, quản lý phòng học phục vụ công tác đào tạo. Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Ban z 18 Ban thanh tra, ban giám hiệu: giám sát việc thực hiện chương trình đào tạo của giáo viên, học viên, 1.