Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chứng cứ trong tố tụng dân sự. Chương 2: Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chứng cứ. Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chứng cứ và kiến nghị. 13 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.
KHÁI NIỆM, CÁC THUỘC TÍNH CỦA CHỨNG CỨ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CHỨNG CỨ VỚI CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có nhiều tình tiết, sự kiện khác khác nhau liên quan đến vụ việc dân sự đòi hỏi Tòa án phải nhận thức và đánh giá. Ở mỗi tình tiết, sự kiện lại có những đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan nhưng cũng có những đặc tính không thể nhận biết ngay được bằng các giác quan mà phải trải qua một quá trình tư duy logic phân tích,tổng hợp, móc nối các tình tiết, sự kiện liên quan đến chúng v.v… sau đó mới có thể đi đến kết luận cuối cùng về chúng.Quá trình xác định, nhận thức các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự trong khoa học pháp lý được gọi là chứng minh. Nhờ quá trình chứng minh làm rõ các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự mà Tòa án có thể nhận thức đúng vụ việc dân sự và giải quyết đúng vụ việc dân sự.
Để thực hiện được chứng minh trong TTDS thì cần phải có chứng cứ. Vì vậy, khi giải quyết một vụ việc dân sự cụ thể bên cạnh việc xem xét, xác định những vấn đề về chứng minh như đối tượng chứng minh, chủ thể chứng minh, quyền và nghĩa vụ chứng minh v.v…thì không thể không xem xét, xác định những vấn đề về chứng cứ. Cơ sở hình thành hệ thống lý luận về chứng cứ là lý luận nhận thức.Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì quá trình nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng. Trong mối liên hệ phổ biến giữa các sự kiện, hiện tượng, thì các sự kiện, hiện tượng đều có quan hệ qua lại, ảnh hưởng đối với nhau.
Mỗi sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thế 14 z giới khách quan đều kéo theo sự thay đổi của thế giới xung quanh, không một sự kiện nào xảy ra lại không để lại dấu vết. Những sự kiện mà trong đó có sự tham gia của con người và những sự kiện con người không trực tiếp thực hiện nhưng biết rõ về nó và được ghi trong trí nhớ. Tin tức về những sự kiện ấy có khi được ghi chép cụ thể và cuối cùng những dấu vết của sự kiện cụ thể có thể để lại trên các đồ vật. Như vậy, mặc dù xảy ra trong quá khứ nhưng dấu vết của các sự kiện vẫn được ghi lại trong trí nhớ của con người và ghi lại trong những vật của thế giới khách quan nhờ vậy mà người ta có được các thông tin về sự kiện ấy và xác định được nó có tồn tại trên thực tế hay không.
Thoe nguyên lý này, quá trình chứng minh trong giải quyết các vụ việc ở Tòa án nhờ đó cũng được thực hiện.Tuy vậy, theo học giả Bentham thì hệ thống lý luận về chứng cứ có bề dày phát triển qua các thời ký lịch sử. Khi trình tự tố tụng đơn giản theo kiểu tố cáo, lý luận tố tụng chưa phát triển thì chứng cứ tốt nhất là lời thú nhận, lời thề thốt hoặc quyết đấu, phân xử theo ý trời như vứt xuống nước không chìm, nung sắt đỏ dí vào lưng không cháy v.v…Khi trình tự tố tụng xét hỏi ra đời (khoảng năm 30 TCN), lý luận chứng cứ hình thức cũng ra đời và phát triển nhất ở Thế kỷ XVII – XVIII với những đặc trưng: Ý nghĩa và hiệu lực chứng cứ được quy định trước trong luật; có sự phân biệt giữa các chứng cứ hoàn thiện và chưa hoàn thiện (lời thú nhận của bị đơn, lời khai thống nhất của 2 người làm chứng là chứng cứ hoàn thiện; chứng cứ gián tiếp, lời khai của một người làm chứng là chứng cứ chưa hoàn thiện) và Thẩm phán không được tự do đánh giá chứng cứ mà phải coi những sự kiện pháp luật đã định là chứng cứ dù tin hay không. Lý luận chứng cứ hình thức có những tiến bộ nhất định vì đã hạn chế được sự độc đoán của quan tòa, bắt họ phải phục tùng các quy tắc pháp luật và được ứng dụng nhiều nước, nhất ở Châu âu & đến Thế kỷ XIX thì hoàn toàn sụp đổ (mà tiền đề là Cách mạng Tư sản Pháp 1789). Vào Thế kỷ XI, ở Anh thực hiện trình tự tố tụng tranh tụng & chế độ xét xử bồi thẩm đoàn, từ đó lý luận chứng cứ Anh ra đời:Lý luận chứng cứ Anh trao cho quan tòa những nguyên tắc pháp lý & sự tự do nhất định trong đánh giá sự việc;không quy định trước hiệu lực, tính chất và ý nghĩa của mỗi loại chứng cứ mà chỉ nhằm mục đích chỉ ra:Những việc nào 15 z có thể chứng minh; những phương tiện nào có thể dùng để chứng minh và ai sẽ xuất trình chứng cứ và phải chịu trách nhiệm chứng minh.
Vào nửa đầu Thế kỷ XIX, trình tự tố tụng hỗn hợp kết hợp giữa tranh tụng và xét hỏi ra đời và cùng với nó lý luận chứng cứ Thẩm phán tự do đánh giá chứng cứ căn cứ vào niềm tin nội tâm của mình đã ra đời. Theo đó, Thẩm phán tự do đánh giá chứng cứ căn cứ vào niềm tin nội tâm của mình chỉ rõ trong xét xử của mình Thẩm phán có quyền tự do đánh giá chứng cứ theo sự chỉ dẫn của lương tâm, ý thức pháp luật và niềm tin của mình. Ý thức pháp luật bảo đảm cho Thẩm phán xác định được phương hướng tố tụng, đánh giá chứng cứ được sáng suốt và chính xác nhất là trong những tình huống phức tạp. Niềm tin nội tâm của Thẩm phán được hình thành trên cơ sở Thẩm phán xem xét các tình tiết, sự kiện của vụ việc với lương tâm của mình bảo đảm cho Thẩm phán xét xử độc lập và phù hợp với thực tế khách quan của vụ việc.[53] Trong khoa học pháp lí, có nhiều quan niệm về chứng cứ.
Theo Bentham thì “chứng cứ là một sự kiện giả định là có thật, sự kiện ấy được coi là sự kiện đương nhiên làm lý do để tin tưởng có hay không có một sự kiện khác.”[53]Theo đó, chứng cứ được xác định phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng, không phụ thuộc vào tính khách quan của sự kiện, tình tiết được coi là chứng cứ. Theo Vơlađiamiaôp thì “chứng cứ là tất cả những gì trong thế giới vật chất, thế giới tinh thần mà con người có thể lĩnh hội được.[53]Quan niệm này đã mở rộng nội hàm khái niệm chứng cứ nhưng không làm rõ được bản chất của chúng làm cho việc xác định khó khăn và tuỳ tiện trong sử dụng.Trong Black’s Law dictionnarythì định nghĩa: “Chứng cứ là cái để chứng minh sự tồn tại hay không tồn tại của một sự kiện liên quan đến vụ án. 212]Quan niệm này phần nào đã chỉ rõ được bản chất và mục đích của việc sử dụng chứng cứ.Trong Từ điển pháp luật của P.Collin thì định nghĩa: “Chứng cứ là những gì chứa đựng sự thật nhằm chứng minh một luận điểm nào đó.”[53]Đây là định nghĩa chứng cứ đơn giản, nhưng đã khái quát được những vấn đề thuộc về bản chất của chứng cứ. 16 z Ở Việt Nam, trước khi BLTTDS được ban hành cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý được công bố trong đó có đưa ra các định nghĩa về chứng cứ.
Trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 1998 thì định nghĩa: “Chứng cứ là những gì có thật mà dựa vào đó theo một trình tự do luật định, Tòa án xác định là có hay không có những tình tiết làm cơ sở cho các yêu cầu của đương sự, viện kiểm sát, tổ chức xã hội và những tình tiết khác có ý nghĩa để giải quyết vụ án.Trong Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học của của Trường Đại học Luật Hà Nội do nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 1999 cũng định nghĩa: “Chứng cứ là cái có thật, được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo trình tự do pháp luật quy định Toà án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.Trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Khoa luật Trường Khoa học xã hội và nhân văn do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia xuất bản năm 1998 cũng định nghĩa về chứng cứ tương tự. Đặc biệt, từ sau BLTTDS được ban hành thì càng có nhiều công trình nghiên cứu khoa học được công bố định nghĩa về chứng cứ. Trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia xuất bản năm 2014 thì định nghĩa: “Chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo trình tự do pháp luật tố tụng dân sự quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.157] Định nghĩa này ngắn gọn nhưng chưa phản ánh đươc đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ. Trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2012 định nghĩa: “Chứng cứ là cái có thật, theo một trình tự do luật định toà án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.171] Định nghĩa này cô đọng nhưng bao quát được các vấn đề liên quan đến chứng cứ và chỉ rõ mục đích của việc sử dụng chứng cứ.
Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của TS Nguyễn Công Bình chủ biên do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2011 thì định nghĩa: “Chứng 17 z cứ là những thông tin, sự kiện, tình tiết có thật, liên quan đến vụ việc dân sự theo một trình tự do luật định Toà án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.101] Định nghĩa này cô đọng nhưng bao quát được các vấn đề liên quan đến chứng cứ, chỉ rõ mục đích của việc sử dụng chứng cứ và những cái có thể trở thành chứng cứ. Trong cuốn Luật tố tụng dân sự Việt Nam nghiên cứu và so sánh thì ThS.