Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ ĐIỆN TỬ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm chứng cứ điện tử Trong thời đại công nghệ thông tin, hoạt động của con người thông qua các thiết bị điện tử ngày càng trở nên phổ biến trên nhiều lĩnh vực. Các thiết bị điện tử cho phép ghi chép, lưu giữ nhiều sự vật, hiện tượng và hoạt động của con người một cách chi tiết, khách quan. Những hoạt động này sẽ hình thành nên các dấu vết điện tử ghi lại hành vi đã thực hiện, các dấu vết này tồn tại và được phát hiện dưới dạng DLĐT.
Các DLĐT này có thể sẽ là nguồn CCĐT để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội hoặc các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Vậy CCĐT là gì? Sự khác biệt về cơ chế hình thành (sự phản ánh), cơ chế tồn tại và cơ chế mang thông tin giữa CCĐT so với chứng cứ truyền thống, đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về CCĐT. Theo quan điểm của các nhà khoa học tại Cục điều tra Liên bang Hoa Kỳ, trong tài liệu của SWGDE/IOCE thì: CCĐT là thông tin có giá trị chứng minh tội phạm được lưu trữ và truyền tải dưới dạng dữ liệu số. Theo quan điểm của Hiệp hội Digital Forensic tại Australia thì: CCĐT là thông tin có giá trị điều tra liên quan đến các thiết bị số và các định dạng dữ liệu.
Những thông tin này được biểu diễn dưới dạng số , bao gồm: System logs, audit logs, appalication logs, network logs, và các file hệ thống. Đồng thời, các file do người dùng tạo ra cũng có giá trị chứng minh hoạt động của tội phạm, siêu dữ liệu của mỗi file này thể hiện rõ quá trình tạo, thay đổi nội dung file. Tại Anh quốc, tổ chức ACPO (Assosiation of Chief Police Officers) cho rằng: CCĐT có thể là các bản ảnh vật lý và logic của các thiết bị, bản ảnh logic chứa một phần hoặc toàn bộ dữ liệu được chụp ngay khi tiến trình đang chạy. Theo trang Từ điển bách khoa mở Wikipedia thì: Chứng cứ kỹ thuật số hoặc CCĐT (Digital evidence or electronic evidence) là bất kỳ thông tin xác thực nào 6 được lưu trữ hoặc truyền dưới dạng kỹ thuật số mà một bên tham gia vụ án có thể sử dụng tại phiên Tòa.
Trước khi chấp nhận CCĐT, Tòa án sẽ xác định xem bằng chứng cứ đó có liên quan hay không, liệu nó có xác thực hay không, nếu đó là tin đồn và liệu một bản sao có được chấp nhận hay bản gốc là bắt buộc. Hiện nay, BLTTHS 2015 không có khái niệm riêng cho CCĐT, mà chỉ có khái niệm về chứng cứ nói chung quy định tại Điều 86 BLTTHS 2015, nội dung như sau: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Như vậy, cho dù tồn tại dưới nguồn nào, thì chứng cứ đều có những dấu hiệu, thuộc tính căn bản, điều này không loại trừ đối với CCĐT. CCĐT là một loại chứng cứ cụ thể, nên cũng phải đảm đảo là “những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.
Hiện nay, về mặt khoa học pháp lý, ở Việt Nam hiện đang tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng: CCĐT là những thông tin, dữ liệu có thật mà các chủ thể tiến hành tố tụng thu thập được từ nguồn chứng cứ điện tử, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS 2015 quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. [15] Ý kiến này đã đưa ra khái niệm về CCĐT bao hàm đầy đủ ba thuộc tính: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp của chứng cứ, tuy nhiên một vài thuật ngữ cần được điều chỉnh cho phù hợp hơn. Ý kiến thứ hai cho rằng: CCĐT là những chứng cứ được lưu giữ dưới dạng tín hiệu điện tử trong máy tính hoặc trong các thiết bị có bộ nhớ kỹ thuật số có liên quan đến vụ án hình sự” [16].
Ý kiến thứ ba theo tổ chức Cảnh sát hình sự Quốc tế – Interpol cho rằng: CCĐT là thông tin và dữ liệu có giá trị điều tra được lưu trữ hoặc truyền đi 7 bởi một máy tính, mạng máy tính hoặc thiết bị điện tử kỹ thuật số khác”. Việc xác lập, thu giữ cũng như phục hồi CCĐT cần phải được tiến hành một cách khẩn trương nhưng thận trọng, tỉ mỉ và chính xác cao. Cả ý kiến thứ hai và ý kiến thứ ba đều không đưa ra được đặc điểm về tính hợp pháp của chứng cứ mà chỉ đề cập đến hai thuộc tính là tính khách quan, tính liên quan. Tổng hợp những quan điểm trên và theo khái niệm về chứng cứ nói chung tại Điều 86 BLTTHS, có thể khái quát định nghĩa về CCĐT như sau: CCĐT là những thông tin, DLĐT có thật, được thu thập và xác định từ nguồn DLĐT, theo trình tự, thủ tục do BLTTHS 2015 quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hành vi phạm tội xảy ra hay không, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án hình sự.
Nguồn của chứng cứ điện tử 1.1 Khái niệm nguồn của chứng cứ điện tử Nguồn của CCĐT là nơi chứa đựng, cung cấp CCĐT và tồn tại khách quan, có liên quan đến vụ án, có thể được các CQTHTT rút ra làm rõ các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và củng cố, sử dụng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án hình sự. CCĐT được thu thập, xác định từ nguồn là các DLĐT. DLĐT là nguồn cung cấp các dữ liệu, thông tin, tình tiết mà từ đó rút ra được những chứng cứ có giá trị chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Hay nói cách khác, nguồn của CCĐT chính là các DLĐT chứa đựng chứng cứ, tức là chứa đựng các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, có liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Như vậy, có thể khái quát định nghĩa về nguồn của CCĐT như sau: nguồn của CCĐT là các DLĐT có chứa đựng, cung cấp CCĐT để các CQTHTT củng cố, sử dụng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án hình sự, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Dữ liệu điện tử DLĐT là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. DLĐT được khởi tạo dưới hai hình thức: Do người sử dụng tạo ra và do máy tính tự động tạo ra. 8 - DLĐT do người sử dụng tạo ra: bao gồm các tài liệu, dữ liệu được tạo ra bởi hành vi của con người và được lưu lại trong bộ nhớ điện tử như văn bản, bảng biểu, hình ảnh số, thư điện tử, nội dung cuộc trò chuyện trên mạng, phản ánh của các khách hàng…Nếu các dữ liệu này được khởi tạo, lưu giữ, truyền đi và nhận lại một cách khách quan, nội dung chứa đựng các thông tin liên quan đến hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên quan khác, có ý nghĩa trong việc xác minh sự thật khách quan trong quá trình giải quyết vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS 2015 quy định thì được xác định là CCĐT.
- DLĐT do máy tính tự động tạo ra: là kết quả được tạo ra sau khi chương trình máy tính xử lý các dữ liệu đầu vào theo một thuật toán đã được xác định, ví dụ như: nhật ký truyền tệp tin trong máy tính (FTP tranfer logs), nhật ký hệ điều hành/các tập tin reg-istry; các bản ghi định vị (GPS records), các bản ghi và nhật ký trang thư điện tử (Wed mail IP logs and records)…Sự tác động của con người đối với dữ liệu do máy tính tạo ra rất hạn chế. Những dữ liệu này nhằm chứng minh nguồn gốc truy cập trái phép, địa chỉ tấn công, các hành vi tấn công mạng. Tuy nhiên, để các dữ liệu sau khi thu được trên máy tính, USB, email của đối tượng, server của nhà cung cấp dịch vụ internet…về hành vi truy cập trái phép, tấn công DDOS, phát tán virus, gian dối, lừa đảo trên mạng trở thành chứng cứ thì cần phải nghiên cứu và xác định các dữ liệu đó có đảm bảo được đầy đủ các thuộc tính của CCĐT hay không. Phương tiện điện tử.
DLĐT được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử. Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự. Cụ thể hơn, phương tiện điện tử là “nơi” lưu trú, truyền đi hoặc nhận lại các dữ liệu điện tử. Đây cũng chính là loại phương tiện mà đối tượng phạm tội lợi dụng để thực hiện tội phạm một cách nhanh chóng, dễ dàng.
Một số loại phương tiện điện tử mà đối tượng phạm tội sử dụng khi thực hiện tội phạm như: các thiết bị di động (thường lưu giữ những chứng cứ quan trọng phục vụ cho công tác điều tra 9 như: tin nhắn, các cuộc gọi…hay thậm chí một số thiết bị di động còn tự động lưu cả lịch trình đi lại của người sử dụng (Ví dụ, khi thu giữ được một chiếu điện thoại Iphone thì có thể khai thác được các thông tin về vị trí người sử dụng đã từng đến qua dịch vụ định vị… Có thể thấy, các phương tiện điện tử rất đa dạng và phức tạp, đòi hỏi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phải có kiến thức và kỹ năng về điện tử khi thực hiện thu thập chứng cứ thông qua các phương tiện điện tử. Phương tiện điện tử không đồng nhất với mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên các đường truyền.