Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của chức năng buộc tội trong giai đoạn xét xử 1. Khái niệm chức năng buộc tội Hiện nay, có ba chức năng cơ bản của TTHS được thừa nhận đó là: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Các chức năng của TTHS đóng một vai trò hết sức quan trọng nó không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt thực tiễn nhằm xét xử đúng người đúng tội, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật qua đó nhằm ngăn ngừa và phòng chống tội phạm đảm bảo xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra việc nhận thức đúng đắn các chức năng của tố tụng hình sự còn đóng vai trò quan trọng trong việc phân định vai trò, vị trí quyền hạn, địa vị pháp lý của các chủ thể khi tiến hành tố tụng, không để xảy ra tình trạng chồng chéo các chức năng của TTHS. Tuy nhiên, hiện nay việc nghiên cứu các chức năng của tố tụng hình sự tuy bước đầu đã có sự quan tâm, nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành về TTHS, nhưng vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể chi tiết và đưa ra khái niệm về chức năng buộc tội được thừa nhận rộng rãi. Để hiểu về khái niệm này, trước tiên chúng ta phải làm rõ khái niệm chức năng là gì?, buộc tội là gì?.Tuy nhiên để làm rõ hai khái niệm này là một vấn đề không đơn giản. Vì mỗi ngành khác nhau sẽ đưa ra khái niệm khác nhau mà trong đó có hạt nhân hợp lý của nó.
Về khái niệm chức năng, khi ta tiếp cận khái niệm chức năng dưới góc độ triết học thì “Chức năng chỉ sự tác động của các đăc tính của một hệ thống khách thể đối với các hệ thống môi trường cùng nằm trong một hệ thống các quan hệ với khách thể đang xem xét một hệ thống các quan hệ nhất định” Còn dưới góc độ Xã hội học thì cho rằng: “Chức năng là sự đóng góp mà một hoạt động bộ phận tạo ra cho hoạt động tổng thể mà nó làm bộ phận. Chức năng của một tập quán xã hội là sự đóng góp của nó cho toàn bộ đời sống xã hội như là sự vận hành của toàn thể hệ thống xã hội”.6] 6 Như vậy, mỗi ngành khoa học khác nhau sẽ có những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chức năng dựa trên mục đích nghiên cứu của những ngành khoa học đó. Khi nghiên cứu luật hình sự và TTHS dưới góc độ một ngành khoa học thì chức năng của TTHS được hiểu là: “Chức năng của tố tụng hình sự là những phương diện hay những dạng hoạt động của tố tụng hình sự do các chủ thể (hoặc nhóm chủ thể) khác nhau nhưng lại gắn kết với nhau một cách hữu cơ nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự” [8, tr. Còn dưới góc độ dựa trên lý thuyết chức năng luận thì “Chức năng của tố tụng hình sự là những hoạt động mang tính định hướng cơ bản nhằm phân định các hoạt động trọng lĩnh vực tố tụng hình sự của các chủ thể khác nhau, nhằm tạo nên sự ổn định mang tính phù hợp với nội dung, mục đích của hệ thống tố tụng hình sự”.
10] Với nhiệm vụ giải quyết một vụ án hình sự trên cơ sở xác định sự thật khách quan của vụ án thì đòi hỏi TTHS cần có các chủ thể khác nhau với nhiệm vụ vai trò trách nhiệm khác nhau, tuy nhiên trong quá trình thực hiện chúng có mối quan hệ gắn kết với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ của TTHS, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa. Về khái niệm buộc tội có ý kiến cho rằng “buộc tội là ghép cho ai một việc bị luật hình sự trừng phạt” [7, tr 1]. Có một số quan điểm lại cho rằng “buộc tội là kết luận của viện kiểm sát trước phiên tòa về hành vi phạm tội của bị can, dựa trên cơ sở phân tích chứng cứ, vận dụng các điều, khoản pháp luật đã quy định. Kiểm sát viên có quyền buộc tội nhưng việc kết tội lại là việc của tòa án” [7, tr.
Hai quan điểm nêu trên đã đề cập đến khái niệm về buộc tội, tuy nhiên chúng chưa nhìn nhận buộc tội dưới góc độ là một chức năng. Qua những phân tích nêu trên phần nào chúng ta có thể đưa ra khái niệm về chức năng buộc tội. Nhưng để có khái niệm toàn diện và khoa học về chức năng buộc tội chúng ta cần phải hiểu về đặc điểm chức năng buộc tội, chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, phạm vi chức năng buộc tội, nội dung của chức năng buộc tội. Từ những cách hiểu khác nhau về vấn đề nêu trên sẽ có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chức năng buộc tội.
7 Có quan điểm cho rằng: “Chức năng buộc tội là hoạt động của Viện kiểm sát nhằm xác định tội phạm và người phạm tội, buộc kẻ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.1] Theo quan điểm này chủ thể thực hiện chức năng buộc tội chỉ là VKS. Chỉ có VKS thực hiện chức năng buộc tội mà thôi. Nhưng, trên thực tế không chỉ riêng VKS thực hiện chức năng này, ngoài ra còn có một số chủ thể khác thực hiện chức năng buộc tội như khi xác định được một người thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, tiến hành việc điều tra và nếu chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì kết thúc điều tra và đề nghị VKS truy tố do vậy cơ quan điều tra cũng là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội. Có quan điểm khác cho rằng: Chức năng buộc tội còn gọi là chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự, là một trong những hoạt động tố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người đó, đảm bảo hình phạt và phán xử đối với người đó”.
Quan điểm này có một ưu điểm là không giới hạn chủ thể thực hiện chức năng buộc tội mà chỉ nêu những hoạt động tố tụng thể hiện chức năng buộc tội như hoạt động nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người đó. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn hạn chế vì “đảm bảo hình phạt và phán xử đối với người đó” là thuộc chức năng xét xử của tòa án, chứ không phải là thực hiện chức năng buộc tội. Có quan điểm cho rằng “ Chức năng buộc tội là chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, theo đó các chủ thể buộc tội sử dụng các quyền năng tố tụng của mình chứng minh tội phạm, người phạm tội để truy cứu ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa” [19, tr. Quan điểm này có cơ sở và đúng đắn hơn cả vì quan điểm này đã khái quát được những nội dung cơ bản nội hàm của khái niệm về chức năng buộc tội.
Điểm đầu tiên đã nêu được vai trò, vị trí của chức năng buộc tội trong TTHS. Quan điểm này cũng không giới hạn chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và nêu thời điểm kết thúc thực hiện chức năng buộc tội. Nhưng khái niệm này theo tôi vẫn còn hạn chế nhất định vì chưa nêu rõ được thời điểm bắt đầu thực hiện chức năng buộc tội và thời điểm kết thúc chức năng buộc tội vì trên thực tế vẫn còn những tranh luận xoay quanh vấn đề này. 8 Quan điểm thứ nhất cho rằng chức năng buộc tội được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố bị can “Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can”.
(Điều 179 BLTTHS năm 2015), và trong một số trường hợp chức năng đó còn được thực hiện ngay từ khi “tạm giữ” đối tượng bị tình nghi phạm tội. Quan điểm thứ hai cho rằng: “chức năng buộc tội thông thường bắt đầu kể từ khi cơ quan điều tra khởi tố bị can, tuy nhiên trong một số trường hợp thời điểm này xuất hiện sớm hơn - kể từ khi một người bị tạm giữ; chức năng buộc tội sẽ kết thúc khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt hoặc áp dụng các biện pháp miễn hình phạt (toàn bộ) hoặc được đại xá hay ân xá” [7, tr.1] Còn thời điểm kết thúc chức năng buộc tội hầu hết quan điểm cho rằng kết thúc bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của tòa án. Nhưng có một số quan điểm cho rằng chức năng buộc tội sẽ kết thúc khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt hoặc áp dụng các biện pháp miễn hình phạt (toàn bộ) hoặc được đại xá hay ân xá thậm chí có một số quan điểm cho rằng chức năng buộc tội sẽ kết thúc khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc kết thúc khi tại phiên tòa KSV rút toàn bộ quyết định truy tố. Nhìn chung, các quan điểm đều có hạt nhân hợp lý.
Tuy nhiên, tôi cho rằng chức năng buộc tội xuất hiện kể từ khi có quyết định khởi tố bị can hoặc có quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền, chức năng buộc tội chỉ thực sự kết thúc khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật. Vậy, từ những phân tích nêu trên, tôi xin nêu khái niệm về Chức năng buộc tội như sau: “Chức năng buộc tội là chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, theo đó các chủ thể buộc tội sử dụng các quyền năng tố tụng của mình chứng minh tội phạm, người phạm tội kể từ thời điểm có quyết định khởi tố bị can hoặc có quyết định tạm giữ đến thời điểm khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật” 1. Khái niệm chức năng buộc tội trong giai đoạn xét xử Trong năm giai đoạn của TTHS: giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử, giai đoạn thi hành án. Thì giai đoạn xét xử là một giai đoạn tố 9 tụng hình sự trung tâm và và có ý nghĩa vô cùng quan trọng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Giai đoạn xét xử gồm hai phần cơ bản đó là: Chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa.