Chương 1 KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN 1. Khái niệm về nhân văn, nhân đạo, nhân bản Khái niệm “nhân văn” trong cuốn Từ điển tiếng Việt đã được định nghĩa như sau: “nhân văn là khái niệm thuộc về văn hóa của loài người”[96; tr 710]. Theo khái niệm nhân văn truyền thống, có người khái quát nhân văn thành bốn hàm nghĩa sau đây: Hàm nghĩa thứ nhất, là lòng nhân từ, thương xót.
Hàm nghĩa thứ hai, là lòng thương xót của quân vương hoặc chính phủ đối với thần dân. Hàm nghĩa thứ ba, lấy nhân quyền làm trung tâm. Hàm nghĩa thứ tư, lấy nhu cầu cơ bản của con người làm trung tâm. Đây là định nghĩa phản ánh triết học cũ nặng về giải thích thế giới theo những quan niệm khác nhau.
Tựu trung lại, có thể đưa ra định nghĩa khái quát về “nhân văn” như sau: “nhân văn” là một khái niệm để chỉ giá trị văn hóa tinh thần của con người. Nó phản ánh và đề cao những giá trị con người đạt được trong quan niệm về con người và các mối quan hệ của con người với con người trong xã hội cũng như với tự nhiên. Nó thuộc về văn hóa của loài người. Khái niệm “nhân văn” khác với khái niệm “nhân đạo” và khái niệm “nhân bản”.
Khái niệm “nhân đạo” được định nghĩa: “Là đạo đức thể hiện ở sự thương yêu, quý trọng và bảo vệ con người”[87; tr. “Nhân đạo” đòi hỏi phải tôn trọng phẩm giá của mỗi cá nhân, tôn trọng quyền sống, quyền tự do phát triển, quyền thực hiện năng lực của mình vì khát vọng hạnh phúc của cá 13 nhân, đây là nguyên tắc phổ biến, mang tính toàn cầu. Nó không phân chia mọi người theo dấu hiệu sắc tộc, giai cấp, tôn giáo, dòng dõi, v. và đòi hỏi phải tôn trọng như nhau đối với bất kỳ đại diện nào của loài người, cũng như phải giúp đỡ những người yếu đuối hay gặp tai nạn.
Khái niệm “nhân bản” được hiểu: “Là quan niệm triết học cho rằng con người là trung tâm của vũ trụ và nguyên nhân sự tồn tại của vạn vật và lợi ích của con người”[87; tr. Nhân bản là lấy con người làm gốc, chủ nghĩa nhân bản là chủ nghĩa coi trọng con người với thực thể hiện hữu của nó – sự sống và bản chất con người (bao gồm cả bản năng vốn có và những giá trị khác). Do đó nói tới nhân bản là nhấn mạnh đến khía cạnh bản thể của con người. Còn hiểu theo nghĩa cũ của tư tưởng nhân văn tư sản thì, “nhân bản” là khái niệm tách rời con người khỏi những mối quan hệ xã hội cụ thể về lịch sử.
Nó quan niệm con người một cách siêu hình và trừu tượng. Nếu cần phải nghiên cứu con người trong các mối quan hệ xã hội, trong các giai cấp…thì “nhân bản” lại đưa ra khái niệm trừu tượng “con người nói chung”. Với cách nhìn phiến diện và mang tính thiển cận đó cho thấy nó không có khả năng gắn liền nhận thức với thực tiễn xã hội, không thể áp dụng chủ nghĩa duy vật vào giải thích lịch sử xã hội. Khái niệm “nhân bản” với nội dung như trên, so với quan điểm của giáo lý kinh viện, tôn giáo là một tiến bộ, song so với “nhân văn” thì còn nhiều hạn chế, vì nó không gắn với con người, với môi trường xã hội của nó.
Như vậy, khái niệm “nhân văn”, “nhân đạo”, “chủ nghĩa nhân văn” và “chủ nghĩa nhân đạo” nhìn ở một khía cạnh nào đó có một lớp nghĩa trùng nhau, tuy không hoàn toàn đồng nghĩa. Tuy nhiên, xét một cách toàn diện, khái niệm “nhân văn” có nghĩa rộng hơn “nhân đạo” và “nhân bản”. Vì khái niệm “nhân văn” nói đến con người một cách toàn diện, gắn con người với 14 văn hóa, với vẻ đẹp của văn hóa loài người từ thời cổ đại, qua Phục hưng và Ánh sáng cho đến ngày nay. “Nhân đạo” chỉ thiên về khía cạnh đạo đức, về tình yêu thương con người, được quan niệm như một yếu tố thuộc về nội dung của “nhân văn”.
Khái niệm về chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Nhân văn là xu hướng chung của sự phát triển nền văn hóa tất cả các dân tộc, nhưng nội dung của nó lại mang tính lịch sử và tính dân tộc, nó gắn liền với sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của các cá nhân và cộng đồng, gắn liền với việc đem lại hạnh phúc cho con người trong một hoàn cảnh chính trị, kinh tế xã hội nhất định. Vì vậy, không thể có chủ nghĩa nhân văn phi lịch sử, phi cá tính và phi dân tộc. * Khái niệm về chủ nghĩa nhân văn Thuật ngữ “chủ nghĩa nhân văn” (bắt nguồn từ tiếng La Tinh “Lumanesimo”, xuất phát từ khái niệm Humanus - con người, tính người) được sử dụng để chỉ hệ thống quan điểm triết học lạc quan, đầy sức sống, thừa nhận hạnh phúc của cá nhân phát triển hài hòa là giá trị tối cao và tiêu chí của tiến bộ xã hội. Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong các khoa học xã hội nhân văn – đã chứng tỏ điều đó.
Xét về mặt lịch sử và về mặt thuật ngữ, khái niệm “chủ nghĩa nhân văn” bắt nguồn từ thời Phục hưng, chính xác hơn là từ thời Phục hưng Italia, khi mà lần đầu tiên cái mà chúng ta gọi là chủ nghĩa nhân văn thể hiện dưới hình thức một thế giới quan có hình thức tư tưởng và toàn vẹn, quy định nội dung cơ bản của các trào lưu tư tưởng thống trị trong xã hội. Song, nếu lý giải chủ nghĩa nhân văn theo nghĩa rộng, tức sự quan tâm cao quý đến con người, đến thế giới tinh thần và mục đích sống của nó, thì nhiều hệ thống tri thức triết học cũng có sự quan tâm như vậy. Với nghĩa đó thì các tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn xuyên suốt 15 toàn bộ lịch sử văn hóa của nhân loại, tạo thành một trong những dấu hiệu bản chất của nó. “Từ điển tiếng Việt” đã định nghĩa: “chủ nghĩa nhân văn là coi trọng nhân phẩm, thương yêu con người, coi trọng quyền của con người được phát triển tự do, coi lợi ích của con người là tiêu chuẩn đánh giá các quan hệ xã hội”[87; tr.
Khái niệm “chủ nghĩa nhân văn” đã bàn đến rất nhiều, tựu trung lại các khái niệm này tuy không giống nhau, nhưng nội hàm của nó đều giống nhau, đều nói về con người, về tình yêu thương con người, đề cao con người và đi đến giải phóng con người. Theo sách Từ Hải (Nhà xuất bản Trung Hoa thư cục – Bắc Kinh 1994), thì “chủ nghĩa nhân văn” là khái niệm chỉ trào lưu tư tưởng tiến bộ trong thời kỳ Phục Hưng văn nghệ Châu Âu, muốn thoát khỏi sự trói buộc của thế lực giáo hội, khôi phục văn minh tinh thần thời cổ đại, đề xướng tư tưởng tự do. Trào lưu này khởi nguồn từ nước Ý vào giai đoạn cuối thế kỷ XIV, sau đó được truyền bá sang các nước Đức, Pháp, Anh, Hà Lan. Chính tư tưởng này đã thúc đẩy việc cải cách tôn giáo.
Hay sách “Giản yếu Hán – Việt từ điển” của học giả Đào Duy Anh (Nhà xuất bản Imprimerie Le van Tan 130-138, Rue ducoton, Ha noi), với nghĩa: “chủ nghĩa nhân văn là một thứ chủ trương của học giả Âu Châu từ hồi thế kỷ XV, là hồi văn nghệ Phục Hưng bài xích cái cũ không tưởng của Cơ đốc giáo mà lấy nhân loại làm đối tượng nghiên cứu, chủ trương nghiên cứu văn nghệ Hy Lạp xưa”. Tác giả Nguyễn Văn Khỏa trong sách “Từ điển Văn học”, nhà xuất bản khoa học xã hội, năm 1983 xác định: “chủ nghĩa nhân văn là một hệ thống quan điểm triết học - đạo đức, chính trị- xã hội coi con người và đời sống hiện thực trần thế của nó, một đời sống văn minh, hạnh phúc, hữu ái là mục đích cao nhất. Nó giải thích những nguyên nhân gây ra cho nhân loại cảnh bất hạnh, tội lỗi, đồi trụy…và đề ra phương pháp giải quyết những 16 hiện tượng đó, để cho con người được sống ngày càng tốt đẹp hơn. Chủ nghĩa Mác ra đời mở ra một thời đại mới cho chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa Mác đã xây dựng một hệ thống quan điểm mới về chủ nghĩa nhân văn trên cơ sở tiếp thu toàn bộ những giá trị ưu tú của chủ nghĩa nhân văn cũ, mà ngày nay gọi là chủ nghĩa nhân văn cộng sản (còn gọi là chủ nghĩa nhân văn mới, chủ nghĩa nhân văn hiện thực, chủ nghĩa nhân văn xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa nhân văn chiến đấu, cách mạng).
Trong “Từ điển tiếng Việt” của nhà xuất bản Đà Nẵng (2006), trung tâm từ điển học Hà Nội – Đà Nẵng, các trang 171; 689 giải thích khái niệm này về cơ bản cũng đồng ý với các quan điểm trên, và cho rằng khái niệm “nhân văn” bao trùm trong đó khái niệm “nhân đạo”, “nhân ái”, “nhân bản”. Ở mỗi thời kỳ của lịch sử, khái niệm nhân văn luôn có sự thay đổi. Trong thời kỳ nguyên thủy, tuy chưa xuất hiện khái niệm “nhân văn”, với nền sản xuất vật chất còn thấp và thô sơ, nhưng ở thời kỳ này vẫn thấy rõ mặt tình cảm của con người, sự đối xử với nhau theo lối bầy đàn phần nào cũng đã thể hiện tình yêu thương. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy được khát vọng giải thoát mọi đau khổ của con người, và mơ ước về một xã hội trong tương lai sẽ tốt đẹp hơn.
Đó chính là giá trị nhân văn của con người. Bước sang giai đoạn Phục Hưng, khái niệm “chủ nghĩa nhân văn” ra đời trong buổi đầu hưng thịnh của giai cấp tư sản đang lên đã giáng một đòn mạnh mẽ vào chế độ phong kiến đã lỗi thời, vào giáo hội xưa cũ. Nó đưa con người thoát khỏi đêm trường trung cổ và bước sang một giai đoạn mới; nhưng chính sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã ngày một khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa nhân văn với hiện thực xã hội, thậm chí làm cho con người phát triển một cách méo mó, phiến diện, biến họ thành công cụ kiếm lời cho chủ nghĩa tư bản. Tuy vậy, chúng ta không thể nào phủ nhận những ý nghĩa nhân văn mà thời kỳ Phục Hưng 17 đã mang lại như: lấy con người là trung tâm, đề cao con người, ca ngợi sự tự do cá nhân, ca ngợi hạnh phúc trần tục của con người, và sự giải phóng con người.