Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử triết học với đề tài "Chủ nghĩa duy ý chí và vai trò của nó đối với triết học phương Tây hiện đại" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Ngọc Thạch, được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2015.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng chủ nghĩa duy ý chí hình thành và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XIX tại Đức với hai đại biểu tiêu biểu là Arthur Schopenhauer và Friedrich Nietzsche. Trào lưu này đánh dấu bước chuyển từ triết học phương Tây truyền thống sang hiện đại thông qua việc công kích chủ nghĩa duy lý và tư duy tư biện của G.W.F. Hegel, đồng thời đưa các vấn đề hiện sinh, bản ngã và nội tâm con người vào trung tâm của suy tư triết học. Dù các vấn đề nhân bản – phi duy lý mà chủ nghĩa duy ý chí đặt ra từ hơn 150 năm trước vẫn giữ nguyên tính thời sự trước những khủng hoảng kinh tế, xung đột và tình trạng tha hóa của con người trong thế giới đương đại, các công trình nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện về chủ nghĩa duy ý chí cũng như vai trò khởi đầu của nó đối với triết học phương Tây hiện đại ngoài mác-xít tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các tư tưởng triết học cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí, đánh giá giá trị và hạn chế của trào lưu này, từ đó luận chứng vai trò mở đường của nó đối với sự xuất hiện và phát triển của các trào lưu triết học nhân bản – phi duy lý phương Tây hiện đại. Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Trình bày khái quát cơ sở, tiền đề, quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy ý chí, giới thiệu hai đại biểu Arthur Schopenhauer và Friedrich Nietzsche cùng các trước tác tiêu biểu.
  2. Phân tích nội dung tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí trên các bình diện bản thể luận (thế giới như biểu tượng, như ý chí và như ý chí quyền lực), nhận thức luận và nhân bản luận; nghiên cứu các yếu tố phi duy lý và phương thức giải thoát con người.
  3. Nhận định, đánh giá về giá trị, hạn chế và vai trò mở đường của chủ nghĩa duy ý chí đối với triết học phương Tây hiện đại, rút ra các ý nghĩa triết học trong việc phát huy sức mạnh ý chí sáng tạo của con người.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: cơ sở, tiền đề lý luận, quá trình hình thành, phát triển và nội dung tư tưởng triết học cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí qua các học thuyết của A. Schopenhauer và F. Nietzsche; mối quan hệ và vai trò của chủ nghĩa duy ý chí đối với triết học đời sống, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa hậu hiện đại; cùng những tác động của ý chí luận lên hoạt động nhận thức và thực tiễn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào bối cảnh lịch sử – xã hội châu Âu và nước Đức thế kỷ XIX, các văn bản triết học của A. Schopenhauer và F. Nietzsche, cùng hệ thống trước tác của các đại biểu tiêu biểu thuộc khuynh hướng nhân bản – phi duy lý phương Tây hiện đại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia thành 3 hướng chính, khảo sát đồng thời hệ thống tài liệu tiếng Việt và tài liệu tiếng nước ngoài (chủ yếu là tiếng Nga và tiếng Anh):

Hướng thứ nhất tập trung vào những vấn đề chung của chủ nghĩa duy ý chí. Tiêu biểu là công trình Triết học phương Tây hiện đại (1981) và Triết học phương Tây hiện đại tân biên (2001, bản dịch tiếng Việt của Lê Khánh Trường năm 2004) của Lưu Phóng Đồng. Tác giả này phân tích chủ nghĩa duy ý chí như một hình thức đặc biệt của chủ nghĩa phi lý tính, xác định nguồn gốc từ A. Schopenhauer, S. Kierkegaard đến F. Nietzsche và H. Bergson. Bên cạnh đó, các bộ từ điển chuyên ngành như Từ điển triết học do M. Rosenthal chủ biên (1975, bản dịch 1986), Từ điển triết học giản yếu do Hữu Ngọc chủ biên (1987), và Từ điển bách khoa triết học tiếng Nga (1998) cũng định danh chủ nghĩa duy ý chí trên cả phương diện siêu hình học bản thể lẫn tâm lý học nội tâm, đồng thời phân loại các đại biểu theo các nhánh duy tâm khách quan (E. von Hartmann) hoặc duy tâm chủ quan (M. Stirner).

Hướng thứ hai khảo cứu nội dung tư tưởng cốt lõi của Arthur Schopenhauer và Friedrich Nietzsche. Nhóm công trình nghiên cứu bao gồm các tác phẩm của Quang Chiến (Chân dung triết gia Đức, 2000; các bài báo trên Tạp chí Triết học năm 1996, 1998), Mai Sơn (101 triết gia), Lưu Căn Báo (Phridrich Nitsơ, 2004), F. Challaye (Nietzsche – Cuộc đời và triết lý, 2007), E. Craig (Triết học, 2010), G. Deleuze (Nietzsche và triết học, bản dịch tiếng Việt 2010), B. Russell (Lịch sử triết học phương Tây, bản tiếng Nga 1997), G. Reale và D. Antiseri (Triết học phương Tây từ khởi nguồn đến nay, bản tiếng Nga 1997), A.G. Spirkin (Triết học, 1998), và A.F. Zotov (Triết học phương Tây hiện đại, 2010). Về nguồn trước tác gốc của các triết gia, luận án tiếp cận qua các bản dịch tiếng Việt, tiếng Nga và tiếng Anh: đối với A. Schopenhauer là Thế giới như ý chí và biểu tượng, Siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết, Những câu phương châm và quy tắc hành vi; đối với F. Nietzsche là Zarathustra đã nói như thế, Bên kia thiện ác, Kẻ phản Ki-tô, Buổi hoàng hôn của những thần tượng, Triết lý Hy Lạp thời bi kịch, Schopenhauer nhà giáo dục, Đánh giá lại mọi giá trị, Khoa học vui vẻ, và Ý chí quyền lực (The Will to Power).

Hướng thứ ba phân tích vai trò của chủ nghĩa duy ý chí đối với các trào lưu triết học phương Tây hiện đại. Hướng này tổng hợp tư liệu từ Nguyễn Hào Hải (Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, 2001), Phạm Minh Lăng (Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây, 2001), Đỗ Minh Hợp (Diện mạo triết học phương Tây hiện đại, 2006), J. Melvil (Các con đường của triết học phương Tây hiện đại, 1997), Trần Quang Thái (Chủ nghĩa hậu hiện đại, 2006; Chủ nghĩa hậu hiện đại – Các vấn đề nhận thức luận, 2011), J.-F. Lyotard (Hoàn cảnh hậu hiện đại), F. Meyer (Để hiểu Bergson, 1999), D. Clark (Freud đã thực sự nói gì?, 2002), E. Bennét (Jung đã thực sự nói gì?, 2002), Lưu Hồng Khanh (Tâm lý học chuyên sâu, 2005), D. Ariely (Phi lý trí, 2009). Đi kèm là các tác phẩm chuyên biệt của S. Freud (Nghiên cứu phân tâm học, Luận bàn về văn minh, Dẫn luận phân tâm học, Totem và cấm kỵ, Nền văn minh và sự bất ổn của nó), H. Bergson (Tiến hóa sáng tạo, Vật chất và ký ức, Hai nguồn gốc của đạo đức và tôn giáo), các chuyên khảo về chủ nghĩa hiện sinh của J.-P. Sartre, cùng các tác phẩm kinh điển của K. Marx, F. Engels, V.I. Lenin và các văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam làm cơ sở đối sánh.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện là: phần lớn các công trình trước đây chỉ đề cập đến chủ nghĩa duy ý chí một cách tản mạn, xem xét từng tác giả riêng lẻ hoặc dừng lại ở những nhận định tổng quát ngắn gọn về ảnh hưởng của nó. Chưa có công trình nào tại Việt Nam đi sâu hệ thống hóa toàn diện cấu trúc nội dung của chủ nghĩa duy ý chí (từ bản thể luận, nhận thức luận đến nhân bản luận) và chứng minh một cách có hệ thống vai trò cầu nối, mở đường của trào lưu này đối với sự hình thành của triết học đời sống, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa hậu hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Việc đánh giá tư tưởng của các triết gia duy tâm, phi duy lý được tiến hành dựa trên các nguyên tắc phương pháp luận mác-xít: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc lịch sử – cụ thể, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nguyên tắc mâu thuẫn biện chứng, và phương pháp tiếp cận cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử và lôgíc: tái hiện tiến trình phát sinh, phát triển của tư tưởng duy ý chí trong dòng chảy lịch sử triết học phương Tây và bối cảnh kinh tế – xã hội cụ thể.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân rã các khái niệm, luận điểm trong các trước tác gốc của A. Schopenhauer, F. Nietzsche và các tác giả hậu thân để tổng hợp thành các cấu trúc lý luận hoàn chỉnh.
  • Phương pháp so sánh và chứng minh: đối chiếu quan điểm giữa các trường phái triết học duy lý và phi duy lý, so sánh ảnh hưởng của tư tưởng phương Đông và phương Tây, chứng minh mối liên hệ kế thừa lý luận giữa chủ nghĩa duy ý chí và các trào lưu triết học hiện đại.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án là hệ thống văn bản học thuật gốc và các bản dịch chuyên khảo về triết học của A. Schopenhauer, F. Nietzsche, S. Freud, H. Bergson, J.-P. Sartre, J.-F. Lyotard; các bộ từ điển triết học chuyên ngành; tài liệu nghiên cứu lịch sử kinh tế – xã hội thế kỷ XIX; cùng các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Marx – Lenin.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Những cơ sở, tiền đề và quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa duy ý chí

Chương 1 làm rõ các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học và các mạch nguồn lý luận làm nảy sinh chủ nghĩa duy ý chí tại châu Âu và nước Đức trong thế kỷ XIX.

Về bối cảnh lịch sử châu Âu, thế kỷ XIX chứng kiến cuộc cách mạng công nghiệp chuyển đổi sản xuất từ thủ công sang đại cơ khí, làm tăng vọt lực lượng sản xuất nhưng đồng thời làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giai cấp và các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ. Sự phát triển khoa học tự nhiên với các phát minh của M. Faraday, J.C. Maxwell, H. Hertz, W. Röntgen, M. Curie đã làm thay đổi quan niệm tĩnh tại về vật chất, làm lung lay bức tranh thế giới của chủ nghĩa duy vật máy móc. Trong lĩnh vực tư tưởng, sự xuất hiện của kinh tế chính trị học cổ điển Anh (A. Smith, D. Ricardo), chủ nghĩa xã hội không tưởng (H. Saint-Simon, C. Fourier, R. Owen), chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa thực chứng (A. Comte, J.S. Mill, E. Mach, R. Avenarius) cùng các trào lưu văn học, nghệ thuật lãng mạn và hiện thực đã phản ánh sự khủng hoảng sâu sắc của các hệ giá trị duy lý tư sản.

Về bối cảnh nước Đức, tác giả nhấn mạnh đặc thù phân tán, lạc hậu về kinh tế và chính trị trong nửa đầu thế kỷ XIX, nhưng đã có sự gia tăng vượt bậc sau khi thống nhất đất nước vào năm 1871 dưới sự chỉ đạo "từ trên xuống" bằng "máu và sắt" của Thủ tướng Otto von Bismarck. Luận án tổng hợp các dữ liệu lịch sử phản ánh sự biến động công nghiệp của các nước:

Chỉ số / Quốc gia Nước Anh Nước Pháp Nước Đức
Số lượng máy hơi nước năm 1826/1830 625 (năm 1830) - 58 (năm 1826)
Số lượng máy hơi nước năm 1847/1848 4.835 (năm 1847) - 1.138 (năm 1848)
Mức tăng sản phẩm công nghiệp (1880 - 1890) 49% 65% 163%
Tỉ trọng sản phẩm công nghiệp thế giới năm 1870 32% 10% 13%
Tỉ trọng sản phẩm công nghiệp thế giới năm 1900 18% 7% 16%

Sự phát triển kinh tế gắn liền với chế độ quân chủ chuyên chế quý tộc Junker, bóc lột lao động nặng nề và chủ nghĩa quân phiệt đã tạo nên tâm trạng bi quan, bế tắc trong tầng lớp tiểu tư sản và giới trí thức Đức, chuyển hóa thành sự phản kháng đối với hệ thống triết học duy lý chính thống của G.W.F. Hegel.

Về tiền đề lý luận, tác giả chứng minh chủ nghĩa duy ý chí tiếp thu sâu sắc tư tưởng triết học phương Đông:

  • Bái hỏa giáo (Zoroastrianism): cung cấp hình mẫu Zarathustra, quan niệm về đấng Ahura Mazda chứa đựng cả thiện và ác, khẳng định tự do ý chí và trách nhiệm tự quyết của cá nhân đối với số phận.
  • Ấn giáo (Veda – Upanishad): cung cấp khái niệm Brahman (bản thể tối cao) và Atman (bản ngã), khái niệm sức mạnh nhiệt tình (tapas) và dục tính như mầm mống khởi nguyên của vũ trụ, cùng triết lý về ý chí trong Chandogya Upanishad ("Ý chí quan trọng hơn trí tuệ", "Nhờ ý chí mà tất cả được sáng tạo") và khái niệm thế giới ảo ảnh (maya).
  • Phật giáo: tư tưởng Tứ diệu đế, lý thuyết nhân quả, sự nhìn nhận cuộc đời là đau khổ do dục vọng và con đường diệt dục để giải thoát ảnh hưởng trực tiếp đến nhãn quan nhân sinh của A. Schopenhauer.

Bên cạnh đó, các tiền đề phương Tây từ Plato, I. Kant (phân định giữa hiện tượng và "vật tự thân") cũng là điểm tựa để A. Schopenhauer phát triển học thuyết của mình. Quá trình phát triển của chủ nghĩa duy ý chí được phân kỳ rõ nét: nửa đầu thế kỷ XIX định hình với tư tưởng của A. Schopenhauer (ý chí sống mù quáng, bi quan), và nửa sau thế kỷ XIX chuyển hóa thành chủ nghĩa duy ý chí quyền lực, phi lý tính và phủ định tôn giáo của F. Nietzsche.

Chương 2. Nội dung tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy ý chí

Chương 2 phân tích hệ thống nội dung của chủ nghĩa duy ý chí qua ba bộ phận cấu thành:

  1. Bản thể luận: Luận án phân tích sự phát triển của phạm trù ý chí trong lịch sử triết học, từ chỗ là thuộc tính của lý tính chuyển thành thực tại bản thể luận độc lập. Ở A. Schopenhauer, bản thể của thế giới là "ý chí vũ trụ" (Urwill / Weltwille) – một lực lượng phi lý tính, mù quáng, vô thức, vĩnh cửu và là cội nguồn tối hậu sinh ra toàn bộ giới tự nhiên và con người. Ở F. Nietzsche, bản thể luận được cụ thể hóa thành "ý chí quyền lực" (Wille zur Macht) – động lực nội tại của mọi tồn tại, biểu hiện thành khát vọng vươn lên, khẳng định sức mạnh, mở rộng quyền chi phối, tự vượt bỏ và không ngừng sáng tạo lại chính mình.

  2. Nhận thức luận: A. Schopenhauer thiết lập nhận thức luận trên mô hình "thế giới như là biểu tượng và ý chí". Nhận thức cảm tính và lý tính thông thường chỉ nắm bắt được thế giới biểu tượng bề ngoài bị khúc xạ qua các phạm trù không gian, thời gian và quan hệ nhân quả (nguyên lý túc lý). Chỉ có trực giác phi duy lý và sự chiêm nghiệm nghệ thuật thuần túy mới cho phép con người thấu triệt được bản chất của ý chí. F. Nietzsche đẩy nhận thức luận phi duy lý đi xa hơn bằng cách phủ nhận sự tồn tại của chân lý khách quan tuyệt đối, coi nhận thức là sự diễn giải mang tính phối cảnh (perspectivism) xuất phát từ nhu cầu sinh tồn và sự thúc đẩy của ý chí quyền lực.

  3. Nhân bản luận: Luận án phân tích tác động của ý chí lên đời sống con người và con đường giải thoát. Trong quan niệm của A. Schopenhauer, ý chí sống thúc đẩy các ham muốn bản năng không cùng, khiến con người luôn rơi vào trạng thái chao đảo giữa đau khổ (khi dục vọng chưa được thỏa mãn) và chán chường (khi dục vọng đã bão hòa). Con đường giải thoát của Schopenhauer chia làm hai cấp độ: giải thoát tương đối mang tính tạm thời thông qua thưởng ngoạn mỹ học duy mỹ (đặc biệt là âm nhạc), và giải thoát tuyệt đối thông qua đạo đức học khổ hạnh, triệt tiêu dục vọng theo tinh thần Phật giáo và Ấn giáo. Ngược lại, F. Nietzsche bác bỏ sự bi quan và chủ nghĩa khổ hạnh; ông chủ trương khẳng định sự sống thông qua việc đánh giá lại mọi giá trị, vượt qua chủ nghĩa hư vô bằng hình tượng Siêu nhân (Übermensch) – con người tự do, tự lập pháp cho chính mình, sống dũng cảm và sẵn sàng đón nhận thử thách của quy luật "quy hồi vĩnh cửu".

Chương 3. Những giá trị, hạn chế của chủ nghĩa duy ý chí và vai trò của nó đối với triết học phương Tây hiện đại

Chương 3 tổng kết giá trị, hạn chế và chứng minh vai trò chuyển giao lịch sử của chủ nghĩa duy ý chí đối với các trào lưu triết học phương Tây hiện đại:

Về mặt giá trị, chủ nghĩa duy ý chí đã công kích mạnh mẽ hệ thống duy lý trừu tượng, tư biện xơ cứng của triết học truyền thống; kéo triết học trở về gắn liền với đời sống hiện thực và thân phận cá nhân con người. Trào lưu này đánh thức tư duy phản tư, phát hiện ra chiều sâu của các yếu tố phi duy lý, trực giác, tâm lý vô thức, bản năng và cảm xúc; đồng thời đề cao khát vọng tự do và năng lực sáng tạo văn hóa – tinh thần của cá nhân.

Về mặt hạn chế, chủ nghĩa duy ý chí mang tính chất duy tâm (duy tâm khách quan ở Schopenhauer và duy tâm chủ quan ở Nietzsche), rơi vào bi quan luận, hư vô luận và phi lý tính cực đoan. Việc tuyệt đối hóa vai trò của ý chí và hạ thấp nhận thức khoa học, xem nhẹ các quy luật vận động khách quan của lịch sử và vai trò của quần chúng nhân dân là những khuyết tật thế giới quan lớn. Các luận điểm về ý chí quyền lực và tầng lớp tinh hoa của Nietzsche cũng tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực phản động, quân phiệt lợi dụng.

Về vai trò mở đường đối với triết học phương Tây hiện đại, luận án phân tích cụ thể 4 mối liên hệ tiếp nối lý luận:

  1. Đối với học thuyết sinh khí sống (élan vital) của Henri Bergson: Bergson kế thừa trực tiếp quan niệm về sức mạnh phi duy lý và dòng chảy sinh mệnh của ý chí để xây dựng triết học đời sống, đặt nhận thức trực giác cao hơn nhận thức phân tích trí tuệ.
  2. Đối với phân tâm học của Sigmund Freud: Freud chuyển hóa ý chí sống mù quáng nằm ở tầng sâu vô thức của Schopenhauer và các xung động bản năng của Nietzsche thành lý thuyết về vô thức, bản năng tính dục (libido) và xung năng sinh tồn chi phối hành vi con người.
  3. Đối với chủ nghĩa hiện sinh: việc xây dựng "triết học tâm trạng" (lo âu, buồn nôn, phi lý, nỗi đau hiện sinh) và nhấn mạnh sự tự do lựa chọn, tự chịu trách nhiệm của cá nhân trong chủ nghĩa duy ý chí đã khơi nguồn trực tiếp cho các tư tưởng hiện sinh của J.-P. Sartre, A. Camus, M. Heidegger.
  4. Đối với triết học hậu hiện đại: tư tưởng chống nền tảng luận, chống các đại tự sự (grand narratives), giải trung tâm, trò chơi ngôn ngữ và lý thuyết văn bản / liên văn bản của J.-F. Lyotard, J. Derrida, M. Foucault chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nhận thức luận hoài nghi và phương pháp phả hệ học của F. Nietzsche.

Từ việc phân tích trên, tác giả rút ra các định hướng nhận thức và thực tiễn: cần tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn và tinh thần sáng tạo của tư tưởng nhân loại; sử dụng thế giới quan duy vật biện chứng để phát huy đúng đắn sức mạnh ý chí, nghị lực của con người Việt Nam trong công cuộc đổi mới và hội nhập, đồng thời kiên quyết khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí trong hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các điểm đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận như sau:

  • Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật và tiền đề lý luận (bao gồm cả tư tưởng triết học – tôn giáo phương Đông và triết học phương Tây) cùng tiến trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa duy ý chí trong thế kỷ XIX.
  • Thứ hai, công trình đã luận giải một cách chỉnh thể nội dung tư tưởng của chủ nghĩa duy ý chí trên ba phương diện thống nhất: bản thể luận, nhận thức luận và nhân bản luận; phân tích rõ hai khái niệm then chốt là "ý chí vũ trụ" của A. Schopenhauer và "ý chí quyền lực" của F. Nietzsche cùng các biểu hiện phi duy lý trong hoạt động sáng tạo tinh thần của con người.
  • Thứ ba, luận án chứng minh vai trò mở đường và đặt nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy ý chí đối với các trào lưu triết học nhân bản – phi duy lý phương Tây hiện đại (triết học đời sống, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hậu hiện đại); đồng thời chỉ ra tính hai mặt (giá trị thức tỉnh nhân văn và hạn chế duy tâm, bi quan) của trào lưu này.

Về giải pháp và kiến nghị thực tiễn, luận án đề xuất việc vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng để cân bằng giữa nhận thức lý tính khoa học và các yếu tố tâm lý, cảm xúc, ý chí; xây dựng các giải pháp giáo dục phát huy nhân tố ý chí sáng tạo của con người Việt Nam, gắn liền với việc phòng chống tư tưởng chủ quan duy ý chí vi phạm quy luật khách quan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do rào cản ngôn ngữ và điều kiện tư liệu, tác giả chủ yếu tiếp cận các trước tác của A. Schopenhauer và F. Nietzsche thông qua các bản dịch tiếng Việt, tiếng Nga và tiếng Anh, chưa thể bao quát toàn bộ nguyên bản tiếng Đức. Ngoài ra, do dung lượng của một đề tài lịch sử triết học khái quát, việc phân tích sự kế thừa của từng trào lưu triết học hiện đại (như phân tâm học hay hậu hiện đại) chủ yếu dừng lại ở mức độ xác lập mối liên hệ và vai trò mở đường nguyên lý.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là:

  • Mở rộng khảo sát trực tiếp các văn bản gốc tiếng Đức của hai triết gia để làm sâu sắc hơn các thuật ngữ chuyên ngành.
  • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt từng nhánh ảnh hưởng cụ thể của chủ nghĩa duy ý chí sang các trường phái triết học hậu hiện đại, phân tâm học cấu trúc hoặc triết học nhân học đương đại.
  • Nghiên cứu cơ chế tâm lý và tác động thực tiễn của ý chí sáng tạo trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và quản trị xã hội tại Việt Nam hiện nay.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Lịch sử triết học, Lý luận văn hóa, Văn học, Tâm lý học và Khoa học xã hội nhân văn.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến lịch sử triết học phương Tây thế kỷ XIX – XX, đặc biệt là tiến trình chuyển giao từ triết học cổ điển sang triết học hiện đại phi mác-xít.
  • Các cán bộ nghiên cứu lý luận, quản lý văn hóa và người làm công tác tư tưởng trong việc tìm hiểu nguồn gốc các khuynh hướng tư tưởng đương đại, từ đó xây dựng phương pháp tiếp nhận tinh hoa triết học thế giới có phê phán.

Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2 (hệ thống hóa chi tiết cấu trúc bản thể luận, nhận thức luận, nhân bản luận của Schopenhauer và Nietzsche) và Chương 3 (sơ đồ hóa mạch nguồn ảnh hưởng từ chủ nghĩa duy ý chí sang Bergson, Freud, Sartre và Lyotard).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn hai đại biểu cốt lõi nào để đại diện cho chủ nghĩa duy ý chí? Luận án khuôn định hai đại biểu tiêu biểu nhất của chủ nghĩa duy ý chí là Arthur Schopenhauer (đại diện cho giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX với thuyết ý chí sống và ý chí vũ trụ) và Friedrich Nietzsche (đại diện cho giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX với thuyết ý chí quyền lực).

2. Những nguồn tư tưởng triết học phương Đông nào đã đóng vai trò tiền đề lý luận cho chủ nghĩa duy ý chí theo phân tích của tác giả? Tác giả chứng minh chủ nghĩa duy ý chí tiếp thu ba nguồn tiền đề phương Đông: Bái hỏa giáo (tư tưởng Zarathustra về sự tự do ý chí và trách nhiệm cá nhân), Ấn giáo qua kinh Veda – Upanishad (khái niệm Brahman, Atman, sức mạnh nhiệt tình tapas và bản chất ý chí trong Chandogya Upanishad), và Phật giáo (quan niệm cuộc đời là bể khổ do dục vọng, thuyết nhân quả và con đường diệt dục giải thoát).

3. Sự khác biệt căn bản trong con đường giải thoát con người giữa A. Schopenhauer và F. Nietzsche là gì? A. Schopenhauer đề xuất con đường phủ định ý chí sống, giải thoát tạm thời qua chiêm nghiệm nghệ thuật duy mỹ và giải thoát triệt để qua lối sống khổ hạnh diệt dục. Ngược lại, F. Nietzsche bác bỏ sự bi quan và chủ nghĩa khổ hạnh, đề xuất con đường khẳng định sự sống thông qua việc phát huy ý chí quyền lực, sáng tạo lại các giá trị sống và hướng tới hình tượng Siêu nhân.

4. Chủ nghĩa duy ý chí đã mở đường trực tiếp cho những trào lưu triết học phương Tây hiện đại cụ thể nào? Luận án luận chứng chủ nghĩa duy ý chí mở đường cho 4 trào lưu: triết học đời sống (học thuyết sinh khí sống của H. Bergson), phân tâm học (lý thuyết vô thức và libido của S. Freud), chủ nghĩa hiện sinh (triết học tâm trạng và bản thể người của J.-P. Sartre), và chủ nghĩa hậu hiện đại (tư tưởng chống nền tảng luận và chống đại tự sự của J.-F. Lyotard).

5. Hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa duy ý chí dưới góc nhìn duy vật biện chứng trong luận án là gì? Hạn chế lớn nhất là lập trường thế giới quan duy tâm, tuyệt đối hóa các yếu tố phi lý tính, bản năng, cảm xúc; rơi vào bi quan luận hoặc hư vô luận; hạ thấp vai trò của nhận thức khoa học và quy luật khách quan, đồng thời xem nhẹ vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Hương đã tái hiện toàn diện bối cảnh lịch sử, tiền đề tư tưởng và quá trình hình thành của chủ nghĩa duy ý chí thế kỷ XIX qua hai đại biểu Arthur Schopenhauer và Friedrich Nietzsche. Bằng việc phân tích có hệ thống cấu trúc bản thể luận, nhận thức luận và nhân bản luận, công trình đã làm rõ những đóng góp phản tư duy lý cũng như những giới hạn thế giới quan duy tâm của trào lưu này. Luận án đã luận chứng vai trò bản lề của chủ nghĩa duy ý chí trong việc khơi dòng cho các khuynh hướng triết học nhân bản – phi duy lý phương Tây hiện đại phát triển. Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tư liệu học thuật có giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử triết học và gợi mở những định hướng phát huy ý chí sáng tạo của con người trong thực tiễn xã hội.