CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Quan điểm rõ ràng đầu tiên về dạy học theo chủ đề do nhà triết học, nhà giáo dục nổi tiếng John Dewey (1859 – 1952) đưa ra. Là một trong những người tiên phong ủng hộ cải cách giáo dục, quan điểm giáo dục của John Dewey bắt nguồn từ triết học thực nghiệm, ông luôn tin rằng học tập cần phải thiết thực.
Trong cuốn “Dân chủ và giáo dục” (1916), Dewey đã đề xuất học sinh cần được tham gia vào các thách thức và công việc của cuộc sống thực thông qua việc hướng dẫn của thày cô, học sinh luôn giữ vai trò trung tâm của lớp học. Năm 1968, nhà giáo dục học Ba Lan - W.Ôkôn đã hoàn thành cuốn “Những cơ sở của dạy học theo chủ đề” - một công trình khá hoàn chỉnh và có giá trị về dạy học theo chủ đề. Theo chuyên ngành Sinh học thì Giáo sư E.Brunov và Viện sĩ I. Zverev có các công trình lớn chuyên khảo về phát triển năng lực độc lập tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình học tập giáo trình sinh học nói chung và Giải phẫu sinh lí vệ sinh người nói riêng.
Trong thế kỉ XXI, thế giới có những thay đổi mạnh mẽ mang tính quyết định trong lĩnh vực giáo dục. Do sức ép và thách thức lớn mang tính thời đại nên giáo dục buộc phải thay đổi cách tiếp cận từ nội dung sang tiếp cận năng lực để sản phẩm của đào tạo là HS phải “biết làm”, nghĩa là mang tính ứng dụng cao. Năng lực của con người được đánh giá trên 3 góc độ: kiến thức, kĩ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa. Muốn tăng cường năng lực cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách ứng dụng khoa học công nghệ, thì phải biết cách giảng dạy và cách học.
Trước đây, sách vở, giáo viên, nhà trường là nơi giúp ta tiếp nhận 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiến thức. Ngày nay, chúng ta hoàn toàn có thể tiếp cận nhờ internet và các phương tiện truyền thông, … một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi. Như vậy, để tiếp nhận kiến thức không phải là quá khó khăn trong thời đại ngày nay mà quan trọng là biến kiến thức đó thành kĩ năng, nói như M. Danilop: “kĩ năng chính là kiến thức trong hành động”.
Từ biết, đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất lớn không phải ai cũng thực hiện được, cần có những bứt phá chuyển thói quen thành kĩ năng. Thế giới đã và đang thiết kế chương trình giáo dục, nội dung giáo dục, PPDH theo hướng tiếp cận năng lực và xây dựng hệ thống các năng lực chung và chuyên biệt cho từng môn học. Có thể thấy ba loại từ chương trình các nước: - Chương trình thiết kế theo NL và nêu rõ các NL cần có của HS (Úc, Canada, New Zealand, Pháp,…). - Chương trình thiết kế theo NL nhưng không nêu hệ thống NL, mà chỉ nêu tiêu chuẩn cụ thể cho chương trình theo hướng này (điển hình là chương trình của Indonesia).
- Tại Phần Lan, Hàn Quốc, Hà Lan,. tuy không công bố thiết kế chương trình theo năng lực nhưng thực chất chương trình dạy học tại các nước này vẫn trên cơ sở phát triển năng lực và định hướng các năng lực cần đạt một cách rõ ràng. - Ở một số nước như Mĩ, Singapore, Thái Lan, hay các nước Tây Âu, không tách rời các môn Khoa học tự nhiên ( Vật lí, Hóa học, Sinh học) ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở. Ở hai cấp học này, các môn này tích hợp thành môn Khoa học, đến cấp THPT, các môn này được tách ra, nhưng cấp này cũng xây dựng các chủ đề tích hợp có tính thực tiễn cao [18, 20].
Sự tích hợp thành môn Khoa học sẽ được giảng dạy theo một số chủ đề chính, sau đó được phân cấp thành các chủ đề nhỏ hơn. Chẳng hạn, ở Úc, chương trình Khoa học gồm các chủ đề chính: Làm việc khoa học; Cuộc 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sống và vật thể sống; Vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân tạo; Năng lượng và sự biến đổi; Trái đất và vũ trụ. Tại các nước khu vực Đông Nam Á, chương trình Khoa học gồm các chủ đề chính: Quá trình khoa học; Chất; Sinh vật và môi trường; Năng lượng và sự biến đổi. Xu hướng DHTCĐ đã đặt ra yêu cầu cải tiến về PPDH, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá.
Trên con đường hướng tới một xã hội tri thức, thông tin và hợp tác toàn cầu, nhu cầu về tiếp nhận, tìm hiểu thông tin, tìm kiếm tri thức của loài người ngày càng cao, cũng như lượng tri thức cần cập nhật hàng ngày là vô cùng lớn nên HS cần có những kỹ năng như cộng tác làm việc, khả năng tìm kiếm, khai thác, xử lý, sử dụng thông tin một cách có hiệu quả. Hình thức học tập không còn bó hẹp trong lớp học mà mở ra ngoài thực tiễn; thời gian học tập để hoàn thành một nội dung, một chủ đề không nhất thiết trong một, hai tiết học mà có thể kéo dài trong một, vài tuần, tùy thuộc vào ý nghĩa, mức độ quan trọng và khó khăn của kiến thức. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra kết quả mà HS đạt được sau một khoảng thời gian nhất định nào đó mà phải đồng thời diễn ra trong suốt quá trình dạy học (đánh giá tiến trình). Tại Việt Nam Ở Việt Nam, dạy học phát triển năng lực đang được quan tâm và áp dụng rộng rãi.
Trong giai đoạn hiện nay, ba mô hình dạy học được áp dụng nhiều và thu được những kết quả, những chuyển biến tích cực trong việc dạy và học của thày trò như sau [2]: - Dạy học dự án (Project – Based Learning) - Dạy học theo chủ đề (Themes – Based Learning) - Dạy học giải quyết vấn đề (Problem – Based Learning). Tuy nhiên, để áp dụng từng phương pháp dạy học vào từng phạm vi kiến thức vẫn là vấn đề đối với các giáo viên. Mỗi phương pháp cần được áp dụng phù hợp, nhuần nhuyễn mới mang lại hiệu quả học tập cao. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dựa trên tình hình thực tế như vậy, ngày 8 tháng 10 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH, hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học, trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng, trong đó có hướng dẫn các bước xây dựng chủ đề dạy học theo 5 bước [5].
Trong đề án cải cách giáo dục sau 2015 của Bộ giáo dục và Đào tạo, nhấn mạnh việc chuyển từ “dạy học tiếp cận nội dung” sang “dạy học tiếp cận năng lực”. Ở đó sẽ tiến hành “dạy học tích hợp” , “dạy học giải quyết vấn đề” với nội dung học tập thiết kế theo chủ đề [6]. Có một số nghiên cứu về dạy học theo chủ đề tích hợp ở Việt Nam như sau: Trong công trình nghiên cứu “Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2015”, tác giả Cao Thị Thặng đã tổng quan về lí luận cũng như thực tiễn về những xu thế dạy học tích hợp theo chủ đề trong chương trình giáo dục của một số nước phát triển trên thế giới. Đồng thời, tác giả cũng phân tích thực trạng, những kết quả ban đầu và những bất cập còn tồn tại của việc vận dụng quan điểm dạy và học theo chủ đề tích hợp rong chương trình giáo dục Việt Nam từ đó đề xuất giải pháp phát triển chương trình trường phổ thông Việt Nam trong tương lai sau năm 2015 [15].
Đặc biệt công trình nghiên cứu của nhóm tác giả do Đỗ Hương Trà (Chủ biên), các nhà khoa học đã biên soạn 2 cuốn sách về dạy học tích hợp các môn học Khoa học tự nhiên và dạy học tích hợp các môn Khoa học xã hội. Các tác giả đã đề xuất cơ sở lí luận, quy trình các bước để thiết kế các chủ đề dạy học tích hợp, đưa ra nhiều gợi ý và định hướng kiểm tra đánh giá [17]. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan về dạy học tích hợp 1.
Thế nào là dạy học tích hợp Tích hợp trong dạy học là phương pháp liên kết các vấn đề của một hay nhiều lĩnh vực khác nhau trong cùng một kịch bản dạy học [17] và là sự trình bày một cách thống nhất về tư tưởng khoa học các khái niệm, các nguyên lý, không đề cập hoặc chưa đề cập đến sự khác nhau giữa các lĩnh vực [13]. Tích hợp là một trong những nguyên tắc lựa chọn nội dung môn học quan trọng đảm bảo “sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [10, 17]. Để hình thành và phát huy những năng lực cần có cho học sinh, hiện nay trên thế giới có xu hướng dạy học tích hợp, giúp học sinh sử dụng được kiến thức các lĩnh vực khác nhau cho những quá trình học tập tiếp theo hoặc áp dụng kiến thức vào thực tế. Như vậy, nhờ dạy học tích hợp, quá trình học tập trở nên có ý nghĩa hơn với học sinh.
Thông qua dạy học tích hợp, học sinh có khả năng giải quyết các tình huống cụ thể trong đời sống nhờ vận dụn g các kiến thức khoa học kĩ thuật, đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại ngày nay [12]. Trong quá trình dạy học tích hợp, nhà trường ngoài việc cung cấp kiến thức còn cần chú ý phát triển cho học sinh kĩ năng tìm kiếm và hệ thống hóa kiến thức. Đồng thời cần phải giúp học sinh có cơ hội vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã được hình thành để giải quyết những vấn đề thực tế bằng cách chú trọng tổ chức các bài học tích hợp. Dạy học tích hợp nhằm phát triển năng lực người học - Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, kiến thức, kĩ năng, thái độ, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Dạy học phát triển năng lực: Lấy học sinh làm trung tâm, chú trọng đến việc học sinh có thể sử dụng các kiến thức, kĩ năng đã được học để giải quyết các vấn đề thực tiễn.