CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC BẤT ĐỘNG SẢN 1.1 Khái quát về FDI 1.1 Khái niệm Một trong những đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thế giới hiện nay là ngày càng xuất hiện nhiều dòng chảy đan xen giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ về các yếu tố sản xuất, vốn, công nghệ, lao động. Hầu hết các dòng chảy đó được thực hiện dưới hình thức đầu tư quốc tế. Và hình thức đầu tư quốc tế phổ biến hiện nay là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Có nhiều cách diễn giải khái niệm FDI khác nhau của các tổ chức quốc tế, các văn bản Luật quốc gia: Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế: IMF: “FDI là một hoạt đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài cho một doanh nghiệp hoạt động trên một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ đầu tư với mục đích là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp” (IMF, 1993).
OECD: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) hoặc quyền kiểm soát (nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu biểu quyết) (OECD, 2008). Ngoài ra còn có khái niệm của UNCTAD về cơ bản cũng giống khái niệm của OECD, nhưng nhìn chung khái niệm của ba tổ chức quốc tế trên đều nhấn mạnh đến khía cạnh lâu dài: lợi ích lâu dài, mối quan hệ kinh tế lâu dài. Muốn có lợi ích lâu dài rõ ràng phải dựa trên việc xây dựng mối quan hệ lâu dài giữa bên đầu tư và bên nhận đầu tư. Và một yếu tố quan trọng không thể thiếu là quyền kiểm soát, quyền quản lý thực sự, đây là yếu tố chính phản ánh ý nghĩa của “đầu tư trực tiếp”.
Theo quan điểm của một số văn bản Luật quốc gia: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 5 Luật Đầu tư nước ngoài của Nga 1991: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là tất cả các hình thức, giá trị tài sản và những giá trị tinh thần mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận”. Luật Đầu tư nước ngoài Việt Nam năm 1996: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Cả hai luật Đầu tư nước ngoài trên đều không đề cập đến yếu tố then chốt là quyền kiểm soát. Các văn bản Luật Đầu tư sau đó của nước ta có nhắc đến khái niệm “Đầu tư”(2005), “Đầu tư kinh doanh”( 2014), “Đầu tư trực tiếp”(2005) nhưng không có khái niệm “Đầu tư trực tiếp nước ngoài”.
Gần nhất có khái niệm “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài” theo Nghị định 78/2006: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài”. Tóm lại có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.2 Đặc điểm Dù FDI được định nghĩa theo cách nào thì cũng bao gồm những đặc điểm chính sau: FDI hầu hết là đầu tư tư nhân với mục đích chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận: đa số khái niệm trên đây đều đề cập đến chủ thể đầu tư trực tiếp nước ngoài là những nhà đầu tư tư nhân, dù có một số trường hợp đặc biệt FDI có sự tham gia của Nhà nước nhưng ưu tiên hàng đầu của hầu hết chủ đầu tư nước ngoài là lợi nhuận, đã đầu tư kinh doanh là phải có lợi nhuận. Chính vì đặc điểm này mà các nước tiếp nhận đầu tư cần phải xây dựng một hành lang pháp lý đủ mạnh và chính sách thu hút FDI hợp lý để đảm bảo hiệu quả của dòng vốn FDI cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Nhà đầu tư nước ngoài nắm quyền kiểm soát, quyền quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư: Dù FDI theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hay liên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 6 doanh thì nhà đầu tư luôn được nắm một phần hoặc toàn bộ quyền quản lý, kiểm soát doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư, căn cứ vào mức độ vốn góp.
Ở một số quốc gia có quy định tỷ lệ vốn tối thiểu so với vốn pháp định hoặc vốn điều lệ để giành quyền kiểm soát, quản lý hoặc tham gia kiểm soát, quản lý doanh nghiệp nhận đầu tư. Mức tối thiểu, loại vốn quy định khác nhau ở mỗi quốc gia. Ví dụ như ở Pháp, Anh là 20%, Mỹ là 10%, ở Việt Nam trước kia là 30% nhưng nay quy định này đã bãi bỏ. Tương ứng với mức tỷ lệ góp vốn đó là quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, là căn cứ để phân chia lợi nhuận và rủi ro.
Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư: Nhà đầu tư có quyền tự chủ trong lĩnh vực, hình thức đầu tư, thị trường và quy mô đầu tư, ra quyết định có lợi nhất cho mình và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động đầu tư đó, có thể lỗ, có thể lãi. Thu nhập của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư vì thế nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ: Để đảm bảo tính hấp dẫn lâu dài của dòng vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư nước ngoài, các chủ đầu tư thường chuyển giao công nghệ cho các nước này thông qua việc đưa máy móc, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, đội ngũ quản lý, marketing.vào để thực hiện dự án. Thông qua hoạt động FDI này, nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý của những nhà đầu tư tiềm năng.3 Các hình thức FDI Theo cách thức xâm nhập có hai hình thức: Đầu tư mới (GI-Greenfield investment): “là hoạt động góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất kinh doanh mới ở nước ngoài” (Vũ Chí Lộc, 2012).
Đây là hình thức truyền thống vì các nước nhận đầu tư thường nhận ngay ra lợi ích mà chủ đầu tư mang lại như tăng thêm vốn, tạo công ăn việc làm và giá trị giá tăng. Sáp nhập và mua lại qua biên giới (M&A- Cross-border Merger& Acquisition): “là hoạt động mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có ở nước ngoài”(Vũ Chí Lộc,2012). Nó được phân tách thành hai loại là đầu tư mua lại và đầu tư sáp nhập. Cả hai giống nhau là đều cùng chuyển giao tài sản của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 7 doanh nghiệp nước này sang doanh nghiệp nước khác.
Tuy nhiên, đối với sáp nhập, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ được chuyển cho doanh nghiệp nhận sáp nhập còn trong hoạt động mua lại, không nhất thiết toàn bộ mà đôi khi chỉ là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp bị mua lại phải gộp chung với tài sản của doanh nghiệp mua lại. Từ phía nước nhận đầu tư, nhìn qua hoạt động này không mang lại ngay lợi nhuận được giai đoạn đầu. Nhưng từ phía chủ đầu tư, hình thức này ngày càng được ưa chuộng hiện nay bởi ưu điểm rút ngắn thời gian tiếp cận, thâm nhập thị trường. Theo hình thức pháp lý: Tùy theo Luật pháp của từng quốc gia quy định khác nhau.
Ở Việt Nam các hình thức ngày càng đa dạng thông qua các văn bản luật từng thời kì. Luật Đầu tư 2005 chia nhỏ thành 7 loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài: - Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài. - Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. - Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT.
- Đầu tư phát triển kinh doanh. - Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư. - Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. - Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
Luật Đầu tư mới nhất đã được Quốc hội thông qua năm 2014 cũng chia nhỏ các hình thức FDI như năm 2005 nhưng bỏ việc nêu cụ thể một số hình thức đầu tư như: hợp đồng BOT, BTO, BT thay vào đó quy định chi tiết hình thức đầu tư đối tác công tư- PPP: “là việc Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng dự án”.4 Các yếu tố của nước nhận đầu tư ảnh hưởng đến hoạt động thu hút FDI Có nhiều nhân tố tác động đến dòng vốn FDI, đến sự biến động, di chuyển của dòng vốn này, bao gồm: những nhân tố đến từ chủ đầu tư, từ nước đầu tư, nhân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 8 tố đến từ nước tiếp nhận đầu tư và nhân tố thuộc môi trường quốc tế. Vì đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là hoạt động thu hút FDI của một quốc gia nên cách tiếp cận các yếu tố sẽ giới hạn chủ yếu ở quy mô một quốc gia, từ góc độ của nước nhận đầu tư. Các yếu tố liên quan đến sức hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư có thể được chia thành 2 nhóm chính: Khung chính sách liên quan đến FDI, những yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh và các yếu tố về kinh tế (UNCTAD, 2002). Khung chính sách liên quan đến FDI: là những quy định mang tính pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động FDI.