Chương 1: Cở sở lý luận về việc làm và chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp; Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức; Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tạo việc làm chủ yếu cho nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Hoài Đức. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chính sách tạo việc làm 1.
Lý luận về việc làm * Khái niệm việc làm Ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới việc làm luôn là một vấn đề quan trọng, là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Ngày nay hệ thống lý thuyết về việc làm đƣợc đề cập trên nhiều tài liệu, sách báo trong nƣớc và quốc tế và đƣợc tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm đƣợc hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tƣ liệu sản xuất, nhằm biến đổi đối tƣợng lao động theo mục đích của con ngƣời. Trong Đại Từ điển kinh tế thị trƣờng của Trung Quốc do Viện nghiên cứu và phổ biến trị thức bách khoa Hà Nội biên dịch và xuất bản năm 1998 thì việc làm đƣợc hiểu là “hành vi của nhân viên có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất để được thù lao hoặc thu nhập”.
Việc làm, theo từ điển Tiếng Việt: “1. Là công việc, nghề nghiệp thường ngày để sinh sống; 2. Là điều kiện để thực hiện cụ thể với lời nói” [44;1064] Nói đến nguồn nhân lực xã hội là nói đến sự liên hệ mật thiết tới vấn đề việc làm. Việc làm và việc xác định số lƣợng ngƣời có việc làm là vấn đề quan trọng đối với mọi quốc gia.
Nó giúp cho việc quy hoạch lao động, quy hoạch phát triển kinh tế thị trƣờng dễ dàng hơn. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đƣa ra khái niệm: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Điều 9 chƣơng II Bộ Luật Lao động của nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012) xác định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm" [18]. Theo Luật Việc làm (2013) thì "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm" [19].
Theo khái niệm này một hoạt động đƣợc coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: + Hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động. Điều này chỉ rõ tính hữu ích của việc làm. + Hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Khác với những hoạt động mà không đƣợc coi là việc làm nhƣ: mại dâm, ma túy… Tuy những hoạt động này cũng tốn sức lực tạo ra lợi nhuận, thu nhập nhƣng bị pháp luật cấm nên không đƣợc coi là việc làm. Các khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhƣng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản: Thứ nhất, hoạt động nội trợ không đƣợc coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ ngƣời có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì đƣợc cho phép và đƣợc coi là việc làm, nhƣng ở quốc gia khác thì không đƣợc coi là việc làm, ví dụ mại dâm ở Việt Nam bị cấm, nhƣng ở nhiều quốc gia phát triển nhƣ Nhật Bản lại đƣợc coi là một nghề; đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhƣng ở Thái Lan và Mỹ lại đƣợc coi là một nghề, thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thƣợng lƣu.
Để làm rõ bản chất của việc làm ngƣời ta còn phân chia việc làm ra thành nhiều loại khác nhau. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ. Việc làm chính là công việc mà ngƣời thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác. Việc làm phụ là công việc mà ngƣời thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công việc chính.
Ngoài ra, theo thời gian làm việc còn chia việc làm thành: việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm. Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 08 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 08 tiếng mỗi ngày và 05 ngày trong tuần; Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của nhà nƣớc 08 tiếng mỗi ngày và 05 ngày mỗi tuần. Thời gian làm việc có thể dao động từ 0,5 đến 05 tiếng mỗi ngày và không liên tục; Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức, không thƣờng xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định. Nhƣ vậy, một hoạt động đƣợc coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: “Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận”.
* Khái niệm tạo việc làm Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động. Cơ chế tạo việc làm: cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của ngƣời lao động, Nhà nƣớc và ngƣời sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn đƣợc làm việc của ngƣời lao động gặp nhau trên thị trƣờng đúng lúc, đúng chỗ. - Về phía người lao động: Muốn tìm đƣợc việc làm phù hợp, có thu nhập cao, đƣơng nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tƣ cho phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định. - Về phía nhà nước: Tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính sách liên quan trực tiếp đến ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, tạo môi trƣờng pháp lý kết hợp sức lao động với tƣ liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho ngƣời lao động.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về phía người sử dụng lao động: Cần có thông tin về thị trƣờng đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc cho ngƣời lao động. Do đó, ngƣời sử dụng lao động cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xƣởng; công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm. Hơn nữa, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động còn cần có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của Nhà nƣớc trong lĩnh vực lao động, việc làm. Đồng thời đề ra các quy định phù hợp, quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức và nâng cao sự thoả mãn của ngƣời lao động, khơi dậy động lực lao động ở mỗi ngƣời.
Ở khu vực nông thôn về cơ bản không có ngƣời thất nghiệp hoàn toàn nhƣng vấn đề đáng quan tâm là tình trạng nhàn rỗi (thiếu việc làm) nhƣ đã trình bày ở phần trên. Sở dĩ không có thất nghiệp hoàn toàn vì mỗi lao động đều có đất để làm tƣ liệu sản xuất của mình, song trong điều kiện đất nông nghiệp hạn hẹp lại đang có xu hƣớng thu hẹp dần do tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thi hóa, trong khi đó lao động nông thôn bổ sung hàng năm là 1,1 - 1,2 triệu ngƣời, cộng với số lao động từ năm trƣớc chuyển sang có nhu cầu giải quyết việc làm, do đó xảy ra tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn là điều không thể tránh khỏi. Tóm lại, từ những đặc điểm lao động việc làm khu vực nông thôn nƣớc ta cho thấy, thực trạng kinh tế nông nghiệp và lao động nông thôn chƣa phát huy hiệu quả cao. Chính vì vậy, để thực hiện thành công CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn thì tạo việc làm sẽ là giải pháp cơ bản để tăng thời gian làm việc, giảm thời gian nhàn, giảm việc làm thuần nông khi quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm, chủ động tạo ra việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân.
Chính sách tạo việc làm cho nông dân * Khái niệm chính sách Có nhiều quan niệm, tiếp cận khái niệm chính sách: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec 1983): “chính sách là quá trình hàng động có mục tiêu mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”.Vũ Cao Đàm: “chính sách là tập hợp biện pháp mà chủ thể quyền lực đưa ra để định hướng xã hội thực hiện mục tiêu chính trị của chủ thể quyền lực [8; 6]. Nhìn chung chính sách là công cụ của chính trị. Tuy nhiên không phải chính sách nào cũng bị chi phối bởi quyền lực chính trị và là công cụ phục vụ trực tiếp cho mục tiêu chính trị.
Trong nhiều trƣờng hợp chính sách mang tính độc lập với chính trị. Tóm lại, chính sách là tập hợp một hoặc một số biện pháp mà chủ thể quản lý đưa ra nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhóm xã hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội hay đạt mục tiêu nhất định mà chủ để quản lý đang hướng tới. * Khái niệm chính sách tạo việc làm Chính sách tạo việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia.