Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế biển Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2005 - 2015 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển tỉnh Bình Thuận đến năm 2030 13 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. Khái niệm và một số vấn đề có liên quan 1. Đại dương và biển Đại dương là một phần của mặt nước biển trên trái đất, nằm giữa các lục địa, có diện tích rất rộng, có độ sâu lớn (4 - 6 km), và có những đặc điểm riêng về các quá trình địa - vật lí.
Mỗi đại dương có một hệ thống riêng về dòng chảy, gió, thủy triều và sự phân bố mang tính đặc thù của đại dương đó về nhiệt độ, độ mặn, độ sâu và trầm tích đáy [15, tr. Biển là một phần của đại dương, lấn sâu vào đất liền hoặc được ngăn cách với đại dương bởi một dãy các hải đảo [15, tr. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, biển là phần đại dương ít nhiều bị ngăn cách bởi lục địa, các đảo hoặc vùng cao của đáy, có chế độ thủy văn riêng biệt. Vùng ven biển Trong Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lí tự nhiên, các tác giả Liên Xô cho rằng “Vùng ven biển là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại.
Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền duyên hải – là dải lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ, nơi có các dạng bờ hiện đại, và ven bờ biển hoặc là nơi có các dạng bờ cổ bị chìm ngập” [51, tr. Khái niệm trên được trình bày mang quan điểm Địa lí tự nhiên, tuy nhiên xét trên thực tế thì vẫn chưa bao quát được những đối tượng về khoa học Địa lí kinh tế - xã hội. Vì thế, cách xác định như trên chỉ phù hợp với việc nghiên cứu các quy luật cũng như đặc điểm của tự nhiên, môi trường và tài nguyên thiên nhiên mà không thể hiện được sự bao quát khi nghiên cứu về dân cư, xã hội, đặc biệt là trong vấn đề phát triển kinh tế biển sẽ có những khó khăn nhất định khi thu thập và tính toán số liệu. Trong đề tài, để thuận lợi trong việc thu thập số liệu, tài liệu và đưa ra đánh giá về tình hình phát triển kinh tế biển của tỉnh, tác giả tạm xác định vùng ven biển là phần không gian theo địa giới hành chính của huyện, xã giáp biển.
Cụ thể, vùng biển ven bờ 14 của tỉnh có ranh giới ngoài cách bờ khoảng 6 hải lý và vùng đất ven biển là các huyện Hàm Tân, Hàm Thuận Nam, Bắc Bình, Tuy Phong, thị xã La Gi, TP. Phan Thiết và huyện đảo Phú Quý, trong đó tập trung vào các xã ven biển. Kinh tế biển Kinh tế biển - một ngành được coi là "động lực thời đại" trong thế kỉ XXI khi con người ngày càng tiến ra biển và đại dương, là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế của bất kì quốc gia nào, đặc biệt là đối với những quốc gia biển như Việt Nam. Ngay từ thời thuở sơ khai cho đến hiện nay, con người đã dựa vào những nguồn lợi từ biển để phục vụ cho cuộc sống của mình: vận chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế biển, du lịch biển,…; đánh bắt, nuôi trồng hải sản, các loại rong biển,…; các ngành công nghiệp khai thác dầu khí, khai khoáng thúc đẩy việc khai thác các loại tài nguyên đến từ biển; hay các hoạt động phát triển kinh tế ven biển để phục vụ khác biển như chế biển hải sản, phát triển dịch vụ hậu cần cho khai thác biển,… Có thể xem những hoạt động trên đều được xem là hoạt động kinh tế biển.
Trên tinh thần quan điểm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, tác giả cũng đều có chung quan điểm về nội hàm kinh tế biển như sau: - KINH TẾ BIỂN hiểu theo nghĩa hẹp là toàn bộ hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: (1) Kinh tế hàng hải(vận tải biển và dịch vụ cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); (3) Khai thác dầu khí ngoài khơi; (4) Du lịch biển; (5) Làm muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và (7) Kinh tế đảo. - KINH TẾ BIỂN hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này lại nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: (1) Đóng và sửa chữa tàu biển (Hoạt động này cũng xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải); (2) Công nghiệp chế biến dầu, khí; (3) Công nghiệp chế biến thủy, hải sản; (4) Cung cấp dịch vụ biển; (5) Thông tin liên lạc (biển); (6) Nghiên cứu khoa học công - nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường biển. Như vậy, nội dung về kinh tế biển là khá rộng, nhưng luận văn này chỉ chú trọng nghiên cứu một số ngành khá phát triển, các ngành thế mạnh ở Bình Thuận hiện nay 15 là: khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản; du lịch biển. Phát triển kinh tế biển - Phát triển, phát triển kinh tế: Phát triển được định nghĩa khái quát trong từ điển Oxford là: “sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn…”(The grandual grow of sth, so that it becomes more advanced, strnger…).
Trong từ điển của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là: “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biên đổi đang diễn ra trong thế giới”. Như vậy khái niệm trên hàm chứa 2 nội dung: có sự thay đổi theo thời gian và phải theo hướng đi lên, hướng tốt hơn tương đối. Phát triển không chỉ đơn thuần là tăng trưởng. Không phải mọi sự tăng trưởng đều dẫn đến phát triển, nhưng không có sự phát triển nào mà không bao hàm sự tăng trưởng.
Ngoài tăng trưởng, phát triển còn bao hàm nhiều yếu tố khác như phát triển đi kèm sự thay đổi về cơ cấu. Như vậy, phát triển kinh tế là một quá trình thăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Có 3 nội dung: (1) Mức độ gia tăng mở rộng sản lượng và sự tăng trưởng mức sản xuất, mức sống; (2) Mức độ biến đổi cơ cấu kinh tế; (3) Sự tiến bộ về cơ cấu xã hội, về đời sống, sự gia tăng thu nhập, mức độ công bằng xã hội. - Phát triển kinh tế biển: với các nội hàm của khái niệm phát triển kinh tế được vận dụng vào một số ngành của kinh tế biển.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển kinh tế biển Vùng ven biển được xem là "mặt tiền" của một quốc gia. Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế biển luôn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố về tự nhiên và kinh tế - xã hội. Việc nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng sẽ là một bước quan trọng trong việc nắm bắt những lợi thế cũng như khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế biển. Vị trí địa lý Vị trí địa lý đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế biển của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ.
Vị trí địa lý còn đóng một vai trò đặc biệt trong việc xác định cơ cấu các ngành kinh tế trong phát triển kinh tế biển, trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư và tạo ra các mối liên kết trong nước và giữa các quốc gia với nhau. 16 Những quốc gia với vị trí giáp biển sẽ giúp cho khí hậu mang tính chất hải dương, nhìn chung quanh năm khí hậu mát mẻ hơn, tác động của các khối khí qua biển kết hợp cùng vai trò của biển sẽ làm cho nguồn dự trữ nhiệt và ẩm dồi dào. Chính điều đó sẽ giúp cho các loại sinh vật có điều kiện thuận lợi để phát triển, từ đó những quốc gia biển có thể tận dụng khai thác triệt để tiềm năng của biển, giúp xây dựng một cơ cấu ngành kinh tế đa dạng. "Thế kỷ XXI là thế kỷ của biển và đại dương - Thế kỷ tiến ra biển của loài người".
Đó là hiệu triệu của Liên hiệp quốc giữa các quốc gia trên hành tinh xanh nhân dịp loài người bước vào thế kỉ mới. Việt Nam nằm bên bờ Tây của biển Đông. Vùng biển Việt Nam rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Biển Đông là con đường chiến lược về giao thương quốc tế.
Vùng biển Việt Nam lại nằm án ngữ trên các tuyến hàng không và hàng hải huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu và Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Biển Đông còn là chiếc cầu nối thuận lợi và quan trọng để nước ta giao lưu kinh tế và hội nhập với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, những quốc gia có biển cũng có chịu nhiều bất lợi nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu đang ngày càng gia tăng; các thiên tai thường xuất hiện ở vùng biển và ven biển; ranh giới hành chính trên biển chưa được thống nhất nên gây ra tranh chấp, ảnh hưởng đến vấn đề an ninh quốc phòng. Tự nhiên Ngoài yếu tố về vị trí địa lý, việc phát triển và phân bố các ngành kinh tế biển còn chịu tác động của các yếu tố về tự nhiên.
Địa hình - địa mạo, địa chất Địa hình vùng ven bờ thường được hình thành do rất nhiều nhân tố tác động như: sóng, thủy triều, các dòng ven bờ, hay địa hình bị phân cắt mạnh, bờ biển bị chia cắt bởi các dãy nũi đâm ra biển, nhiều vũng vịnh, đầm phá. Vai trò tương tác của sông - biển thể hiện rõ trong quá trình hình thành dải đồng bằng ven biển. Trên quan điểm động lực, địa hình ở đới ven bờ còn thường xuyên chịu tác động của cả ba qua trình: xâm thực, vận chuyển và tích tụ. Từ đó hình thành những dạng địa hình tích tụ - mài mòn, đi kèm là những hiện tượng xói lở - bồi tụ tùy khu vực và thời điểm.