Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 1. Một số khái niệm liên quan về thực hiện chính sách quản lý đất đai 1. Một số khái niệm - Quản lý đất đai là một lĩnh vực của quản lý nhà nước, là tổng thể các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất nhằm đạt mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương [18, tr 59). Nói cách khác, quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước (đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý) đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Theo tài liệu đào tạo kế hoạch hợp tác đối tác giữa Tổng cục Quản lý đất đai Việt Nam và Lantmateriet, Thụy Điển giai đoạn 2010 - 2013 thì thuật ngữ quản lý nhà nước về đất đai được sử dụng chủ yếu ở các nước nơi đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước để mô tả cách Nhà nước quản lý đất đai và kiểm soát việc sử dụng đất. Tại các quốc gia sở hữu tư nhân là chủ yếu, sự kiểm 8 Luan van soát của Chính phủ đối với sử dụng đất được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống quy hoạch sử dụng đất và hệ thống địa chính [28, tr 37]. Từ khái niệm nêu trên có thể thấy các chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai, bao gồm: - Chủ thể thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai được quy định tại Điều 21 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể: + Quốc hội ban hành luật, nghị quyết; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước. + Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương theo thẩm quyền; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương.
+ Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai theo thẩm quyền quy định tại Luật này. - Các chủ thể thực hiện quản lý nhà nước về đất đai: + Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đất đai trong phạm vi cả nước. + Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giúp Chính phủ trong quản lý nhà nước về đất đai.
+ Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền [22, tr 23]. 9 Luan van Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở cấp tỉnh, thành phố (Sở Tài nguyên và Môi trường) và ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Phòng Tài nguyên và Môi trường). Cấp xã có công chức làm công tác địa chính, công chức địa chính ở xã, phường, thị trấn có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc quản lý đất đai tại địa phương. - Chính sách quản lý đất đai được hiểu như các hành động và hoạt động mà thông qua đó Chính phủ xác định cho các cá nhân và nhóm trong xã hội về quyền của họ đối với đất đai, cụ thể hóa những hoàn cảnh mà trong đó quyền về đất đai có thể được chuyển nhượng, và xây dựng cơ chế để bảo vệ những quyền lợi đó và định hướng xử lý các tranh chấp có liên quan.
Những chính sách đất đai chính thức của Việt Nam trước đây được phản ánh thông qua nhiều luật (chẳng hạn như Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003), nghị định, chỉ thị, quyết định và thông tư. Những chính sách này do Chính quyền trung ương thiết lập và do các bộ ngành và những cơ quan có liên quan ở các cấp triển khai thực hiện. Những chính sách đất đai phi chính thức được xác định theo cách các cơ quan quyền lực khác nhau và các đơn vị chức năng trực thuộc diễn giải, thực hiện và tuân thủ các chỉ đạo của Trung ương. Sự gắn kết ý đồ và kết quả đạt được trên thực tế sẽ xác định tính hiệu lực của chính sách đất đai.
- Thực hiện chính sách quản lý đất đai chủ yếu phải làm bằng được các giải pháp để đưa chính sách đất đai vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các chính sách đất đai và tổ chức thực hiện chúng nhằm thực hiện hóa mục tiêu của nhà nước trong việc quản lý đất đai [29, tr 13]. Vai trò, đặc điểm và nguyên tắc quản lý đất đai * Vai trò quản lý đất đai. - Công tác quản lý đất đai giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Toàn bộ đất đai được chia ra 2 bộ phận chính: bộ phận đất công do Nhà nước nắm giữ để sử dụng vào các mục đích chung (bao gồm: sông biển, rừng núi, công trình công cộng, công sở, cơ sở quốc phòng - an ninh, đất chưa khai thác); bộ phận còn lại được giao cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.
Giữa hai bộ phận này có thể chuyển dịch theo tình hình cụ thể để đáp ứng nhu cầu của Nhà nước và của nhân dân. Các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai bằng chính sách và pháp luật để đảm bảo kỷ cương xã hội và lợi ích cơ bản lâu dài. Đó là các việc: quy hoạch và kế hoạch, thu thuế hoặc tiền sử dụng đất, giao và cho thuê đất, thu hồi hoặc tịch thu (do giải tỏa cho mục đích chung, do vi phạm pháp luật), cấm sử dụng sai mục đích, cấm xây dựng (một số loại công trình trên một số loại đất), đăng ký và chứng nhận quyền sử dụng đất, xử lý các tranh chấp về đất đai, quản lý thị trường đất đai… Qua đó, đảm bảo quyền định đoạt của Nhà nước và bảo đảm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Bên cạnh đó phải đảm bảo các lợi ích cơ bản của người sử dụng để họ gắn bó với đất đai, yên tâm đầu tư dài hạn; quyền sử dụng đất được chính thức được coi là tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng; tạo điều kiện cho việc chuyển nhượng từ người sử dụng kém hiệu quả sang người sử dụng có hiệu quả hơn; được chuyển mục đích sử dụng hợp lý một cách thuận lợi cho việc 11 Luan van tích tụ tập trung đất để tổ chức làm ăn quy mô lớn; được thừa kế và trao tặng hợp pháp; được góp vốn để đầu tư bằng giá trị quyền sử dụng đất [25, tr 59].
- Bảo đảm sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia. Quản lý nhà nước về đất đai sao cho: quỹ đất sản xuất nông nghiệp được bố trí hợp lý theo nguyên tắc bảo vệ quỹ đất trồng lúa, hình thành các vùng chuyên canh phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của từng vùng; quỹ đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị được bố trí phù hợp; diện tích đất chưa sử dụng từng bước được khai thác đưa vào sử dụng. - Tăng cường hiệu quả sử dụng đất. Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào các việc: bảo vệ, cải tạo, làm tăng độ màu mỡ của đất; phát triển kết cấu hạ tầng để làm tăng giá trị của đất.
- Bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường. Nhà nước có chính sách khuyến khích khai hoang, phục hóa, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hóa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Cũng như nghiêm cấm các hành vi hủy hoại đất, vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố, không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích. * Đặc điểm quản lý đất đai - Hoạt động quản lý đất đai của nhà nước rất phong phú, đa dạng bao gồm: điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân loại đất, lập bản đồ địa chính, quản lý các hoạt động sử dụng đất, thống kê, kiểm kê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; - Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng đất; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; ban hành các 12 Luan van văn bản pháp luật về quản lý và sử dụng đất, tổ chức thực hiện các văn bản đó….
* Nguyên tắc quản lý đất đai Thứ nhất, đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được. Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Đây là nguyên tắc nhầm đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước.
Thứ hai, hài hòa giữa quyền đại diện chủ sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của người trực tiếp sử dụng đất.