Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Thị Thu Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Báo, bảo vệ năm 2023 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (mã số 9 38 01 02).
Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ quan điểm coi gia đình là tế bào của xã hội, môi trường hình thành, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách và lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội và văn kiện (như Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 2011, Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014, Văn kiện Đại hội XII và Đại hội XIII) đều khẳng định nhiệm vụ xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Nhà nước đã cụ thể hóa đường lối này qua Hiến pháp, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 (và sau đó là Luật sửa đổi năm 2022), cùng các chiến lược phát triển gia đình và chương trình hành động quốc gia. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường, đô thị hóa và hội nhập quốc tế đã khiến tình trạng bạo lực gia đình (BLGĐ) trở thành vấn đề xã hội phức tạp, xâm phạm trực tiếp đến quyền con người, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của cá nhân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận theo các hướng: chính sách gia đình nói chung, phân tích quy định pháp luật thực định về phòng, chống BLGĐ, đánh giá việc thực thi pháp luật hoặc khảo sát các khía cạnh tâm lý - xã hội của nạn nhân. Số lượng nghiên cứu trực diện về chính sách pháp luật (CSPL) nói chung và CSPL phòng, chống BLGĐ nói riêng còn rất ít, quy mô nhỏ lẻ, thiếu tính hệ thống và chưa làm rõ được mối quan hệ biện chứng giữa chính sách và pháp luật. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách đồng bộ, chuyên sâu ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học về CSPL phòng, chống BLGĐ là yêu cầu cấp thiết nhằm lấp đầy khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CSPL phòng, chống BLGĐ, từ đó xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện CSPL phòng, chống BLGĐ ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể gồm ba nội dung:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về CSPL phòng, chống BLGĐ, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, vai trò, chủ thể, đối tượng, nội dung và các yếu tố tác động đến CSPL phòng, chống BLGĐ.
- Mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng CSPL phòng, chống BLGĐ ở Việt Nam; chỉ ra những hạn chế của CSPL và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Dự báo tình hình BLGĐ và công tác phòng, chống BLGĐ trong thời gian tới; xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện CSPL phòng, chống BLGĐ ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Các quan điểm khoa học về chính sách, CSPL, phòng, chống BLGĐ và CSPL phòng, chống BLGĐ.
- Quan điểm, chủ trương của Đảng và nội dung CSPL của Nhà nước về phòng, chống BLGĐ.
- Thực trạng thực hiện CSPL phòng, chống BLGĐ ở Việt Nam hiện nay.
- Kinh nghiệm của Việt Nam và một số quốc gia trong nhận thức và thực hiện CSPL phòng, chống BLGĐ.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận CSPL dựa trên cấu trúc nội hàm gồm hai khía cạnh: (i) Chính sách xây dựng pháp luật (chính sách lập pháp) về phòng, chống BLGĐ và (ii) Chính sách thực hiện pháp luật (tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật) về phòng, chống BLGĐ. Luận án tập trung nhận diện nội hàm và thực tiễn thực hiện CSPL, không đi sâu vào quy trình kỹ thuật lập pháp chi tiết hay các biện pháp can thiệp nghiệp vụ thuần túy ngoài pháp luật.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tiễn trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu CSPL trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), trọng tâm là giai đoạn từ khi ban hành Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007 đến nay. Các số liệu thống kê được cập nhật từ năm 2007 đến giai đoạn ban hành Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung cụ thể:
Nhóm nghiên cứu lý luận về chính sách công và chính sách pháp luật:
- Về chính sách công nói chung, các ấn phẩm giáo trình và sách chuyên khảo tiêu biểu được tác giả trích dẫn gồm: Đỗ Phú Hải (2017) với Tổng quan về chính sách công; Đặng Khắc Ánh cùng các đồng chủ biên với Những vấn đề cơ bản của chính sách công; Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa với Đại cương về chính sách công; Triệu Văn Cường cùng các tác giả với Chính trị trong chính sách công; Lê Văn Hòa (2016) với Giám sát và đánh giá chính sách công; Lê Chi Mai (2001) với Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách. Các công trình này cung cấp khung lý thuyết về chu trình chính sách, công cụ phân tích và các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách công.
- Về lý luận CSPL, tác giả dựa vào hệ thống công trình của GS. TS. Võ Khánh Vinh như: Chính sách pháp luật; Xã hội học pháp luật, những vấn đề cơ bản (2015); Chính sách pháp luật: khái niệm và các dấu hiệu; Đời sống pháp luật – khách thể của chính sách pháp luật; Các phương tiện của chính sách pháp luật; Chính sách xây dựng pháp luật – Một loại chính sách pháp luật và một hình thức thực hiện chính sách pháp luật; Học thuyết pháp luật – Hình thức thực hiện chính sách pháp luật; Quan niệm tổng thể về chính sách xây dựng pháp luật ở Việt Nam; Chính sách pháp luật thi hành án hình sự: Những vấn đề lý luận. Tác giả cũng kế thừa các luận án tiến sĩ vận dụng khung lý thuyết này như luận án của Huỳnh Thị Kim Ánh (2020) về Chính sách pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và Đặng Văn Cường (2020) về Chính sách xét xử hình sự ở Việt Nam.
Nhóm nghiên cứu lý luận về phòng, chống bạo lực gia đình:
- Trong nước: Phan Văn Khôi và Đỗ Thị Thạch với Những vấn đề giới từ lịch sử đến hiện đại; Bùi Văn Thịnh với Phòng ngừa tội phạm có sử dụng bạo lực những vấn đề lý luận; Trần Thị Hồng và Lê Thị Hồng Hải (2014) với Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu bạo lực gia đình đối với người cao tuổi; Lê Thị Hồng Thương với Một số nhận thức về khái niệm tội phạm bạo lực gia đình; Hoàng Bá Thịnh với bài viết Một số vấn đề về nghiên cứu bạo lực gia đình ở Việt Nam.
- Quốc tế: Công trình của Shelley Casey (2008) về Chuẩn mực quốc tế của Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Stephen Cretney với Family Law in the Twentieth Century: A History; Marianne D. Weiner, Barbara Stark, Solangel Maldonado với Family Law in the World Community: Cases, Materials, and Problems in Comparative and International Family Law; Barbara Stark với International family law; Kaur và Garg (2011) với Addressing Domestic Violence Against Women: An Unfinished Agenda; Rea Abada Chingson với CEDAW and the law.
Nhóm nghiên cứu về thực trạng chính sách, pháp luật và thực tiễn phòng, chống bạo lực gia đình:
- Tại Việt Nam: Phạm Thị Tính với bài viết Bạo lực gia đình với vấn đề bảo vệ nhân phẩm và quyền con người; tài liệu tổng kết 25 năm thực hiện Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) thực tiễn tại Việt Nam; Võ Thị Kim Hương với bài giới thiệu Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt Nam; Hoàng Bá Thịnh với sách Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ; Đức Thảo với bài viết Bạo lực gia đình gốc gác từ luật tục; Nguyễn Thị Thảo với Vấn đề bạo lực trong gia đình trí thức ở nước ta hiện nay; Nguyễn Bá Đạt với nghiên cứu về hành vi kém thích nghi của thanh thiếu niên trong gia đình có bạo lực; Nguyễn Thị Hoa với nghiên cứu về sự hài lòng cuộc sống của phụ nữ bị bạo lực; Bùi Thị Xuân Mai với nghiên cứu thực trạng các biện pháp can thiệp bạo lực gia đình; Phạm Hương Trà với khảo sát đưa tin về BLGĐ trên báo điện tử; Phạm Văn Thanh với bài viết về thực trạng và giải pháp phòng, chống BLGĐ dựa trên số liệu của Tòa án nhân dân tối cao; Đặng Thị Hoa và Phạm Thị Kim Oanh khảo sát BLGĐ tại vùng dân tộc H'mông; Phan Thị Thanh Mai nghiên cứu bạo lực của cha mẹ với con tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Nguyễn Tuyết Mai nghiên cứu luật phòng, chống BLGĐ ở Singapore; Nguyễn Thị Thuận nghiên cứu luật của một số nước.
- Nước ngoài: Nghiên cứu của Fenrich & Contesse (2008) tại New Zealand; báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2013) về tỷ lệ bạo lực đối với phụ nữ toàn cầu; Araujo và cộng sự (2000) về việc đưa BLGĐ thành vấn đề công và đối tượng chính sách; Rawlings và Roberta K. Rigsby (1994) trong Loving to Survive; Báo cáo của Thượng viện Australia (2016) về BLGĐ và bất bình đẳng giới.
Nhóm nghiên cứu về giải pháp và mô hình can thiệp:
- Các công trình của Trần Tuyết Ánh, Nguyễn Hữu Minh, Hoa Hữu Vân (2012); tài liệu dịch và tham khảo của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XI; các báo cáo và khuyến nghị của UNIFEM và UNFPA tại Việt Nam; Hoàng Bá Thịnh (về bạo lực đối với trẻ em); Trần Thị Cẩm Nhung (về các giải pháp can thiệp quốc tế); Nguyễn Thị Trang (về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước giai đoạn 2005 - 2015); Phạm Thị Thoa (vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ); Lê Thị Ánh Nguyệt (nghiên cứu thực tiễn biện pháp hành chính tại Quảng Nam); Đào Văn Dũng (về phối hợp liên ngành); Đặng Doanh (vai trò nhân viên công tác xã hội); Herbert & Mckenzie (2014) và Bộ Tư pháp New Zealand (2015) về hệ thống tích hợp xử lý BLGĐ; More Buying Choices về cải cách luật gia đình ở châu Âu.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết:
Qua tổng quan, tác giả khẳng định hầu hết các nghiên cứu đã công bố tiếp cận BLGĐ dưới góc độ xã hội học, tội phạm học hoặc phân tích các chế định pháp luật thực định riêng lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện, toàn diện về CSPL phòng, chống BLGĐ như một loại hình chính sách công đặc thù, bao quát cả hai cấu phần: chính sách xây dựng pháp luật và chính sách thực hiện pháp luật. Luận án định vị là công trình đầu tiên hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng CSPL và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện CSPL phòng, chống BLGĐ tại Việt Nam một cách có hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình, phụ nữ và trẻ em; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền con người, xây dựng gia đình văn hóa mới. Đồng thời, tác giả tiếp thu các lý thuyết khoa học pháp lý hiện đại:
- Học thuyết Nhà nước pháp quyền: Làm cơ sở xác lập tính tối thượng của pháp luật và bảo đảm quyền công dân trong xử lý bạo lực gia đình.
- Lý thuyết về quyền con người và bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương: Tiếp cận bảo vệ phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi trước các hành vi bạo lực.
- Lý thuyết về quản trị tốt: Làm cơ sở phân tích sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cộng đồng.
- Lý thuyết xã hội học pháp luật và triết học pháp luật: Phân tích sự chuyển hóa giữa ý chí chính trị, chuẩn mực xã hội và quy phạm pháp luật thực định.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được luận án kết hợp gồm:
- Phương pháp tổng quan và xử lý tài liệu, số liệu: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 3 để tập hợp, phân loại, đánh giá các công trình khoa học, báo cáo và văn bản pháp lý.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt các chương, đặc biệt trong Chương 1, Chương 2 và Chương 3, nhằm làm rõ các khía cạnh lý luận, cấu trúc chính sách và thực trạng áp dụng pháp luật.
- Phương pháp tổng hợp: Áp dụng ở Chương 1, Chương 3 và Chương 4 để rút ra các kết luận khoa học và xây dựng hệ thống giải pháp.
- Phương pháp so sánh: Sử dụng tại Chương 2, Chương 3 và Chương 4 nhằm so sánh giữa đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước; so sánh quy định pháp luật Việt Nam với luật quốc tế (CEDAW, khuyến nghị của WHO, UNICEF) và pháp luật một số nước (Singapore, New Zealand, Indonesia...); so sánh Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007 với Luật năm 2022.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng tại Chương 3 để xử lý các chuỗi số liệu về vụ việc bạo lực gia đình, hình thức bạo lực, đối tượng vi phạm, biện pháp can thiệp và xử lý vi phạm hành chính, hình sự.
- Phương pháp dự báo khoa học: Sử dụng tại Chương 4 để dự báo xu hướng biến đổi gia đình, tình hình BLGĐ và các yếu tố tác động trong giai đoạn mới.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3 để khai thác dữ liệu từ các báo cáo quốc gia, đề tài nghiên cứu đã công bố của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tòa án nhân dân tối cao, Tổng cục Thống kê, UNFPA.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm:
- Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các chỉ thị liên quan đến công tác gia đình.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007 và năm 2022, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định hướng dẫn thi hành.
- Số liệu thống kê chính thức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về số vụ BLGĐ, nạn nhân, người gây bạo lực và các biện pháp xử lý từ năm 2009 đến năm 2021; số liệu điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ; báo cáo thống kê xét xử án hình sự về bạo lực gia đình của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2009 - 2015.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra về đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành ba nhóm nội dung lớn: lý luận về chính sách công và CSPL; lý luận và thực trạng về phòng, chống BLGĐ; các đề xuất giải pháp, mô hình can thiệp.
Tác giả rút ra các nhận xét quan trọng:
- Các khía cạnh nhận thức cơ bản về giới, bình đẳng giới, khái niệm bạo lực gia đình và bảo đảm quyền con người của nhóm yếu thế đã được nhiều học giả làm rõ.
- Tuy nhiên, phần lớn các công trình tiếp cận từ góc độ xã hội học thực nghiệm hoặc nghiên cứu thuần túy luật thực định. Hoạt động nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn dưới góc độ "chính sách pháp luật" còn phân tán, thiếu tính hệ thống.
- Luận án xác định các vấn đề cần tiếp tục giải quyết: xây dựng khái niệm khoa học về CSPL phòng, chống BLGĐ; làm rõ đặc điểm, vai trò, cấu trúc nội hàm của chính sách; phân tích các yếu tố tác động; đánh giá thực trạng thực hiện chính sách xây dựng pháp luật và chính sách thực hiện pháp luật; từ đó xác định giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam
Chương 2 tập trung xây dựng khung lý thuyết của luận án qua việc định nghĩa và phân tích các khái niệm nền tảng:
- Chính sách công: Là sản phẩm của cơ quan công quyền, bao gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, giải pháp mang tính ưu tiên để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định.
- Chính sách pháp luật: Tác giả điểm lại các quan điểm tiếp cận (tiếp cận tư tưởng, tiếp cận hoạt động của GS. TS. Võ Khánh Vinh, TS. Huỳnh Thị Kim Ánh; tiếp cận tư tưởng - hoạt động của TS. Đặng Văn Cường) và định nghĩa: CSPL là sản phẩm của cơ quan công quyền, bao gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, giải pháp mang tính ưu tiên trong điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội nhất định, định hướng cho quá trình xây dựng và thực thi pháp luật trong các giai đoạn của phát triển xã hội.
- Khái niệm bạo lực gia đình: Luận án so sánh định nghĩa của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (1996), luật pháp Indonesia và đối chiếu giữa Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007 với Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 của Việt Nam:
| Tiêu chí |
Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007 |
Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 |
| Định nghĩa |
Hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác. |
Hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với thành viên khác. |
| Dạng hành vi bạo lực |
Quy định chung 3 dạng (thể chất, tinh thần, kinh tế); bạo lực tình dục chưa được tách bạch độc lập rõ ràng. |
Quy định cụ thể 4 dạng (bổ sung rõ ràng bạo lực tình dục), mở rộng danh mục lên 16 hành vi cụ thể. |
| Đối tượng áp dụng |
Thành viên gia đình trong thời kỳ hôn nhân và sống chung. |
Mở rộng đối tượng áp dụng đối với người đã ly hôn, người chung sống như vợ chồng, quan hệ cha mẹ - con nuôi đã chấm dứt. |
| Trọng tâm tiếp cận |
Hòa giải, duy trì sự ổn định gia đình; xử lý người gây bạo lực. |
Lấy người bị bạo lực gia đình làm trung tâm; tăng cường quyền, biện pháp bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân khẩn cấp. |
- Phòng, chống bạo lực gia đình: Được hiểu là hoạt động của cả hệ thống chính trị, các nhóm xã hội và công dân, dựa vào chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước để phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi BLGĐ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
- Chính sách pháp luật về phòng, chống BLGĐ: Luận án đưa ra định nghĩa: Là một bộ phận cấu thành chính sách pháp luật của quốc gia, bao gồm các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, giải pháp mang tính ưu tiên trong điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, định hướng cho quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật với mục đích phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi bạo lực gia đình nhằm phát triển hệ giá trị gia đình, xây dựng gia đình văn minh, tiến bộ, hạnh phúc, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.
- Cấu trúc nội hàm của CSPL: Tác giả xác lập cấu trúc gồm hai thành tố cơ bản: (i) Chính sách xây dựng pháp luật (chính sách lập pháp) và (ii) Chính sách thực hiện pháp luật (tổ chức thi hành pháp luật và bảo vệ pháp luật).
- Đặc điểm và yếu tố tác động: CSPL phòng, chống BLGĐ mang các đặc điểm chung của CSPL (tính chính trị, quyền lực công, tính định hướng, tính pháp lý...) và đặc điểm riêng (khách thể là hoạt động pháp luật về phòng, chống BLGĐ; sản phẩm đầu ra là quy phạm pháp luật và trật tự pháp luật gia đình). Các yếu tố tác động bao gồm: điều kiện kinh tế - xã hội; phong tục, tập quán, luật tục; nhận thức về bình đẳng giới; năng lực bộ máy công quyền; hội nhập quốc tế và các chuẩn mực nhân quyền.
Chương 3: Thực trạng chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 tập trung phân tích tình hình BLGĐ và đánh giá thực trạng CSPL thông qua hệ thống dữ liệu thực tế:
- Luận án phân tích số liệu về quy mô, tính chất các vụ việc bạo lực gia đình, phân loại theo hình thức (thể chất, tinh thần, kinh tế, tình dục), đối tượng gây bạo lực và nạn nhân, được tổng hợp qua hệ thống danh mục bảng biểu của luận án:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng số liệu theo văn bản luận án |
Phạm vi nội dung và thời gian phản ánh |
| Bảng 3.1 |
Số vụ bạo lực gia đình từ năm 2009 đến năm 2021 ở Việt Nam |
Quy mô và diễn biến số lượng vụ việc trên toàn quốc qua các năm |
| Bảng 3.2 |
Số vụ bạo lực gia đình theo hình thức, người gây bạo lực và nạn nhân |
Cơ cấu hành vi (thể chất, tinh thần...), chủ thể thực hiện và nhóm nạn nhân |
| Bảng 3.3 |
Kết quả điều tra về các loại hình bạo lực gia đình |
Tỷ lệ phổ biến của từng dạng bạo lực theo các khảo sát thực tế |
| Bảng 3.4 |
Số liệu về can thiệp, xử lý bạo lực gia đình giai đoạn 2012 - 2017 |
Tình hình áp dụng các biện pháp hỗ trợ, can thiệp tại cơ sở |
| Bảng 3.5 |
Số liệu về biện pháp xử lý bạo lực gia đình giai đoạn 2012 - 2021 |
Số lượng xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp giáo dục, cấm tiếp xúc |
| Bảng 3.6 |
Số vụ áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tội phạm bạo lực gia đình giai đoạn 2009 - 2015 |
Số vụ án, bị can, bị cáo bị truy cứu TNHS theo thống kê xét xử |
- Về chính sách của Đảng và Nhà nước: Luận án phân tích việc thể chế hóa quan điểm của Đảng qua các văn bản lập pháp (Hiến pháp 2013, Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007 và 2022) và hệ thống văn bản dưới luật (Nghị định số 02/2013/NĐ-CP của Chính phủ về công tác gia đình, các nghị định xử phạt vi phạm hành chính, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030).
- Về thực tiễn thực hiện CSPL:
- Tác giả đánh giá kết quả áp dụng các biện pháp hòa giải ở cơ sở, mô hình can thiệp, cơ sở hỗ trợ nạn nhân và địa chỉ tin cậy tại cộng đồng.
- Phân tích thực tiễn áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc, xử lý vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình (Điều 185 BLHS) hoặc cố ý gây thương tích.
- Đánh giá chung:
- Ưu điểm: Hệ thống CSPL đã tạo hành lang pháp lý khẳng định BLGĐ là hành vi vi phạm pháp luật bị nghiêm cấm; huy động được sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và đoàn thể xã hội; nâng cao nhận thức cộng đồng.
- Hạn chế: Cơ chế phát hiện, báo tin và ngăn chặn hành vi bạo lực còn chậm; biện pháp cấm tiếp xúc theo Luật năm 2007 có tính khả thi thấp; chế tài xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe; cơ chế bảo vệ nạn nhân và nhân chứng (bên thứ ba) còn thiếu đồng bộ; công tác phối hợp liên ngành giữa văn hóa, công an, tư pháp, y tế, lao động - thương binh và xã hội còn lỏng lẻo.
- Nguyên nhân: Nhận thức xã hội còn coi BLGĐ là "chuyện nội bộ"; tư tưởng gia trưởng; năng lực cán bộ chuyên trách công tác gia đình ở cơ sở còn hạn chế; nguồn kinh phí và cơ sở vật chất dành cho việc tạm lánh, hỗ trợ tâm lý chưa đáp ứng yêu cầu.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam
Chương 4 xác định các định hướng và giải pháp cụ thể trong giai đoạn mới:
- Quan điểm hoàn thiện:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và tính thống nhất với Hiến pháp năm 2013, gắn kết chặt chẽ giữa chính sách phòng, chống BLGĐ với chính sách phát triển gia đình, quyền con người và bình đẳng giới.
- Quán triệt nguyên tắc "lấy phòng ngừa là chính", kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân, đặt nạn nhân làm trung tâm trong mọi quyết định can thiệp.
- Bảo đảm tính đồng bộ, khả thi, tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (đặc biệt là Công ước CEDAW và Công ước về Quyền trẻ em).
- Các nhóm giải pháp hoàn thiện CSPL:
- Đổi mới nhận thức: Thay đổi tư duy lập pháp và thi hành pháp luật từ xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa; nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, xóa bỏ định kiến giới và quan niệm bạo lực là việc riêng của gia đình.
- Hoàn thiện nội dung chính sách xây dựng pháp luật: Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022; làm rõ quy chuẩn 16 hành vi bạo lực; bổ sung cơ chế bảo vệ người báo tin, tố giác (bên thứ ba); hoàn thiện chế tài xử phạt vi phạm hành chính và quy định hình sự liên quan đến bạo lực tình dục trong hôn nhân.
- Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật: Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành rõ ràng giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Công an, Bộ Y tế và Tòa án; chuẩn hóa quy trình tiếp nhận tin báo tố giác 24/7; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ công tác xã hội, tư pháp cơ sở; đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực tài trợ cho mô hình nhà tạm lánh và dịch vụ hỗ trợ pháp lý, tâm lý miễn phí cho nạn nhân; tăng cường hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ dữ liệu và mô hình can thiệp phù hợp.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp mới sau:
- Hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra các vấn đề đã đạt đồng thuận và các khoảng trống lý thuyết cần tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực CSPL phòng, chống BLGĐ.
- Đưa ra định nghĩa khoa học riêng về CSPL phòng, chống BLGĐ; phân tích đặc điểm, vai trò và phân định rõ khái niệm này với khái niệm chính sách phòng, chống BLGĐ và pháp luật phòng, chống BLGĐ.
- Nhận diện cấu trúc nội hàm của CSPL gồm hai thành tố hữu cơ: chính sách xây dựng pháp luật (chính sách lập pháp) và chính sách thực hiện pháp luật (tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật).
- Phân tích có hệ thống các yếu tố tác động đến quá trình hoạch định và hiện thực hóa CSPL phòng, chống BLGĐ tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Phân tích bức tranh thực trạng CSPL và thực tiễn thực hiện CSPL phòng, chống BLGĐ trên cơ sở chuỗi dữ liệu thực nghiệm và thống kê xét xử, chỉ ra các nút thắt trong công tác can thiệp, xử lý vi phạm.
- Xác định hệ quan điểm và đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ, nhấn mạnh phương châm lấy phòng ngừa là chính, bảo vệ người báo tin/bên thứ ba, cơ chế phối hợp liên ngành, xã hội hóa nguồn lực và hợp tác quốc tế, cung cấp luận cứ cho việc triển khai Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 và xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển gia đình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật học vĩ mô (Luật Hiến pháp và Luật Hành chính), do đó không đi sâu vào quy trình kỹ thuật lập pháp chi tiết và các kỹ năng tâm lý - xã hội học can thiệp cụ thể. Do giới hạn phạm vi đề tài, luận án sử dụng chủ yếu nguồn tài liệu và dữ liệu thống kê thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước và tòa án mà không tiến hành điều tra xã hội học diện rộng bằng bảng hỏi độc lập.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 sau khi có hiệu lực từ ngày 01/7/2023, đặc biệt là hiệu quả áp dụng 16 hành vi bạo lực mới và biện pháp cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã hoặc Tòa án.
- Nghiên cứu sâu cơ chế pháp lý bảo vệ các đối tượng đặc thù trước bạo lực gia đình như người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và vấn đề bạo lực tình dục trong quan hệ vợ chồng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng sau:
- Cơ quan xây dựng và hoạch định chính sách: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022, cơ quan tư pháp và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong việc xây dựng kế hoạch liên ngành và hoàn thiện quy chuẩn can thiệp bạo lực gia đình.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Xã hội học pháp luật, Lý luận Nhà nước và Pháp luật: Tham khảo khung lý thuyết về cấu trúc nội hàm CSPL và phương pháp tiếp cận chính sách công trong nghiên cứu luật học.
- Giảng viên các cơ sở đào tạo luật và khoa học xã hội: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy trong các học phần về quyền con người, pháp luật hôn nhân gia đình và chính sách xã hội.
Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là hệ thống lập luận về khái niệm, cấu trúc nội hàm của CSPL tại Chương 2 và hệ thống số liệu phân tích biện pháp can thiệp, xử lý vi phạm tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án định nghĩa "Chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình" như thế nào?
Tác giả định nghĩa: CSPL về phòng, chống bạo lực gia đình là một bộ phận cấu thành chính sách pháp luật của quốc gia, bao gồm các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, giải pháp mang tính ưu tiên trong điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, định hướng cho quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật với mục đích phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi bạo lực gia đình nhằm phát triển hệ giá trị gia đình, xây dựng gia đình văn minh, tiến bộ, hạnh phúc, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.
2. Khái niệm bạo lực gia đình trong Luật năm 2022 có điểm gì bổ sung so với Luật năm 2007 được luận án chỉ rõ?
Luật năm 2022 bổ sung bạo lực về "tình dục" vào định nghĩa (thành 4 dạng: thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế), mở rộng hành vi bạo lực lên 16 hành vi cụ thể, mở rộng phạm vi áp dụng đối với người đã ly hôn, người chung sống như vợ chồng, và chuyển trọng tâm can thiệp sang bảo vệ, hỗ trợ khẩn cấp cho người bị bạo lực thay vì chỉ tập trung hòa giải.
3. Cấu trúc nội hàm của chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình được luận án phân chia ra sao?
Luận án tiếp cận cấu trúc nội hàm CSPL trên hai khía cạnh: (i) Chính sách xây dựng pháp luật (chính sách lập pháp) về phòng, chống BLGĐ và (ii) Chính sách thực hiện pháp luật (bao gồm tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật) về phòng, chống BLGĐ.
4. Những nguồn số liệu thống kê chủ yếu nào được tác giả sử dụng để đánh giá thực trạng ở Chương 3?
Tác giả sử dụng số liệu thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về các vụ việc bạo lực gia đình, người gây bạo lực, nạn nhân giai đoạn 2009 - 2021; số liệu điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ; số liệu can thiệp, xử lý giai đoạn 2012 - 2021; và số liệu xét xử án hình sự về tội phạm bạo lực gia đình của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2009 - 2015.
5. Luận án đề xuất phương châm cốt lõi nào trong việc hoàn thiện và thực hiện chính sách pháp luật trong giai đoạn mới?
Phương châm cốt lõi được tác giả khẳng định là "lấy phòng là chính", đặt người bị bạo lực làm trung tâm, bảo vệ người tố giác/bên thứ ba, kết hợp chặt chẽ cơ chế phối hợp liên ngành và tăng cường nguồn lực xã hội hóa cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và thực tiễn trong chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, cấu trúc nội hàm của chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình dựa trên sự kết hợp giữa chính sách lập pháp và chính sách thực hiện pháp luật. Dựa trên chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2007 - 2021, tác giả đã chỉ ra các hạn chế trong cơ chế bảo vệ nạn nhân, răn đe vi phạm và phối hợp liên ngành. Các quan điểm và nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào quá trình triển khai thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 tại Việt Nam.