Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU Bao luc gia dinh noi chung va bao luc trong mối quan hệ vợ chồng nói riêng không phải là một chủ đề nghiên cứu mới mẻ trong khoa học xã hội. Trước khoảng giữa những năm 1980, có rất ít những nghiên cứu trên thế giới về BLGĐ và nếu có thì cũng chỉ thường xem xét BLGĐ dưới khía cạnh lịch sử (Grovert J. Tuy nhiên, đến nay, xuất phát từ thực tế là bạo lực gia đình đã trở thành van dé toàn cầu, đe dọa sự 6n định và phát triển của mọi quốc gia, mọi dân tộc, rất nhiều nghiên cứu khoa học xã hội đã lựa chọn khai thác chủ đề này ở nhiều khía cạnh đa dạng. Tại Việt Nam, bạo lực gia đình cũng là một chủ đề nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của các học giả, các cơ quan nghiên cứu, các tô chức chính phủ và phi chính phủ.
Vũ Mạnh Lợi và cộng sự (1999) khi nghiên cứu BLGĐ trên cơ sở giới đã đi sâu xem xét thái độ của cộng đồng, các thể chế xã hội, cá nhân, luật pháp đối với nạn nhân BLGĐ và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến BLGĐ. Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh (2007) lại đặt ra vẫn đề lý luận, phương pháp luận của bạo lực giới trong gia đình, làm rõ bối cảnh xã hội, nguyên nhân, hậu quả của BLGĐ cũng như nhận thức của người dân và chính quyền đối với BLGĐ và phân tích những mô hình phòng chống BLGĐ hiện có tại Việt Nam. Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu khác như của Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Thị Vân Anh (2009) tập trung phân tích thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2001) tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân, cán bộ hành pháp, các tổ chức xã hội về BLGĐ, những hậu quả của BLGD và phản ứng của nạn nhân tại 3 tỉnh Thái Bình, Lang Son và Tiền Giang. Năm 2012, Vụ Gia đình thuộc Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch và Viện nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp thực hiện “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có 14 tính đột phá trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016” nhằm xác định thực trạng, nguyên nhân, xu hướng bạo lực gia đình để từ đó đưa ra các giải pháp phòng chống bạo lực gia đình hiệu quả.
Nghiên cứu cũng đánh giá hiệu quả của các hình thức truyền thông và các biện pháp xử lý của chính quyền, đoàn thê đối với các vụ việc bạo lực gia đình. Nhiều nghiên cứu khác của Dương Thị Thanh Mai; của Nguyễn Hồng Giang, trích theo Hoàng Bá Thịnh (2005) về hình thức, nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình cũng tập trung phác họa một bức tranh chung về thực trạng bạo lực gia đình nói chung và bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng tại Việt Nam với các đặc điểm phô quát. Các nghiên cứu về BLVC nạn nhân là phụ nữ Mặc dù bạo lực vợ chồng đã được nhận diện như một van đề toàn cau, nhưng mỗi quốc gia, với các đặc thù về văn hóa, kinh tế, xã hội, vấn đề khác nhau, bạo lực vợ chồng lại mang những sắc thái, đặc điểm khác nhau. Trước tiên, không thể phủ nhận răng hầu hết các nghiên cứu về BLVC đều xác định nạn nhân là phụ nữ.
Chang han, theo Aklimunnessa K. và cộng sự (2007), ty lệ bao lực gia đình của chồng đối với vợ về thé chat, tình dục và tổng thé ở Bangladesh lần lượt là 68%, 27% và 72%. Trong đó tát (61%), giật/ném/án đầu (40%) là những hình thức bạo lực gia đình phổ biến nhất. Theo Vũ Mạnh Lợi và cộng sự (1999), 40% đến 50% phụ nữ được hỏi cho biết họ bị bạo hành tinh thần trong vòng 12 tháng trước thời điểm khảo sát; 13,2% phụ nữ bị đánh bởi chồng và từ 5% đến 23% cho biết họ phải chịu các hình thức lạm dụng thể chất và tình dục khác nhau [Duvvury và cộng sự, 2012].
Thứ hai, nội dung nghiên cứu về thực trạng BLVC cũng ít khi được nghiên cứu riêng lẻ mà thường được lồng ghép trong các nghiên cứu về bạo lực gia đình. Chăng hạn, kết quả “điều tra gia đình Việt Nam năm 2006” do Bộ văn hóa, thé thao và du lịch kết hợp với tổng cục thống kê, UNICEF và viện gia đình và giới tiến hành bên cạnh việc chỉ ra các đặc điểm nhân khẩu - xã hội hộ gia đình; đặc điêm hôn nhân và phân tích các môi quan hệ gia đình, 15 cũng mô tả các hình thức bạo lực, lý do và hậu quả của bạo lực. Tuy vậy, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc điểm sơ bộ hậu quả tâm lý của BLGĐ đối với phụ nữ và trẻ em. Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam do chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc (2010) phối hợp thực hiện được coi là nghiên cứu đầu tiên được tiễn hành trên phạm vi toàn quốc nhằm tìm hiểu những thông tin chi tiết về mức độ phô biến và các loại hình bạo lực đối với phụ nữ, các hậu quả về mặt sức khỏe của bạo lực gia đình, các yếu tô rủi ro, phòng ngừa bao lực, cách xử trí của phụ nữ khi gặp phải bạo lực gia đình cũng như các dịch vụ trợ giúp mà họ đã sử dụng.Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu chuẩn mực từng được áp dụng trong nghiên cứu Da quốc gia của Tổ chức Y tế Thế giới về Sức khỏe Phụ nữ và Bạo lực Gia đình, bao gồm một phiếu điều tra chuẩn đã được thử nghiệm, và một phương pháp đảm bảo so sánh được các số liệu của nghiên cứu với các số liệu tại các bối cảnh khác.
Bên cạnh việc cung cấp những thông tin chỉ tiết về tỷ lệ bạo lực, tần suất, nghiên cứu còn đánh giá các chiến lược đối phó, nhận thức về bạo lực gia đình đối với phụ nữ và kiến thức của phụ nữ về quyền pháp lý của họ. Đặc biệt, nghiên cứu khá chú trọng tìm hiểu những hậu quả về sức khỏe thé chất và tinh thần đối với phụ nữ cũng như hành vi điều trị các thương tích do BLGĐ. Những kết quả thu được từ nghiên cứu này tạo điều kiện cho các cơ quan Chính phủ và các tô chức xã hội dân sự nâng cao nhận thức và xây dựng những chính sách và chương trình nhằm ngăn ngừa và giải quyết vấn đề về bạo lực gia đình đối với phụ nữ một cách hiệu quả hơn. Năm 2012, Vụ Gia đình thuộc Bộ Văn hóa, thé thao va du lịch phối hợp với Viện nghiên cứu gia đình và giới thực hiện “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016” với 1206 đại diện hộ gia đình tại 4 tỉnh, thành phố Yên Bái, Hải Phòng, Đà Nẵng và Hậu Giang.
Nghiên cứu đã tìm hiểu được thực trạng nhận thức, hành vi bạo lực gia đình và các nguyên nhân, hậu quả của của tình trạng đó cũng như công tác phòng 16 chống bạo lực gia đình ở các địa phương trên, từ đó đề xuất những giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu BLGD trong giai đoạn 2012-2016. Thứ ba, BLVC tại nông thôn Việt Nam có những nét đặc thù. Tại Việt Nam, mô hình chung sống phổ biến ở nông thôn Việt Nam là gia đình mở rộng với với nhiều thế hệ chung sống, đôi khi bao gồm cả họ hàng. Trịnh Thái Quang (2005) trong khi nghiên cứu mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn, bên cạnh việc chỉ ra những yếu tố liên quan đến bạo lực gia đình như trình độ học van, mức sống vốn đã được đề cập đến nhiều ở các nghiên cứu trước, còn khai thác thêm ảnh hưởng của quy mô gia đình và mô hình sống chung đối với vấn đề bạo lực gia đình.
Nghiên cứu cũng phân tích một cách có ý nghĩa mối quan hệ giữa mâu thuẫn gia đình và bạo lực gia đình, nhất là ở các gia đình trẻ tuổi. (2010) lại nghiên cứu về vai trò của gia đình mở rộng trong nguy cơ bị bạo lực gia đình của phụ nữ tại Jordan, sử dụng phương pháp liên ngành. Nghiên cứu này đã kiểm định cách thức mà cách tổ chức và chức năng của gia đình có ảnh hưởng đến nguy cơ bị bạo lực gia đình ở phụ nữ và xác định những yếu tố rủi ro xuất phát từ gia đình và cả những yếu tố bảo vệ đối với phụ nữ trong vấn đề bạo lực gia đình. Việc tiếp xúc với bạo lực gia đình từ khi còn nhỏ; sống trong gia đình mở rộng; bị thành viên khác trong gia đình can thiệp vào chuyện hôn nhân; bị thành viên khác trong gia đình bao lực làm gia tăng nguy cơ bao lực gia đình ở phụ nữ là những yếu tố làm gia tăng nguy cơ bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Với thực tế là trình độ học vấn thấp, phụ thuộc kinh tế và ít được coi trọng so với nam giới đã được chứng minh là yếu tố nguy cơ cho BLGD qua những nghiên cứu trước đó, nhóm phụ nữ nông thôn - những người thường hội tụ các yếu tố trên là nhóm dễ bị tổn thương bởi BLGĐ. Kumar và cộng sự (2005), khi nghiên cứu phụ nữ nông thôn ở Ấn Độ đã phát hiện ra rằng 40% phụ nữ có các van dé tâm lý liên quan đến việc bạo hành và cần sự can thiệp y tế. Phụ nữ nông thôn là một bộ phận quan trọng của dân sé Việt Nam. Tuy vậy, họ là 17 một nhóm dễ bị tổn thương bởi những nghiên cứu về giới và giới tính đã cho thấy phần đông phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ nông thôn thiếu khả năng kiểm soát mối quan hệ của họ với nam giới [Lê Thị Phương Mai, 1998; Belanger và Khuất Thu Hồng, 1998].
Nghiên cứu của Vũ Song Hà (2008) tại Yên Mỗ, Ninh Bình cho thấy phụ nữ nông thôn thường dễ dàng chấp nhận thỏa mãn nhu cầu tình dục của chồng và khó có thể nói “không” ngay cả khi họ mệt mỏi, không hứng thú. Nhiều phụ nữ cho biết họ quan hệ tình dục với chồng chỉ dé có con và thỏa mãn chong: tình dục đôi khi trở thành nguồn cơn cho những vấn đề sức khỏe và gánh nặng của người phụ nữ [Gammetoft, 1999]. Tâm lý sợ chồng và yếm thế cũng khiến cho nhiều phụ nữ không dám sử dung bao cao su bởi sợ làm chồng mat hứng, sợ người khác nghi ngại về mối quan hệ của mình.