Tổng quan luận án

Công trình "Ảnh hưởng của bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng: Những chiều cạnh sức khỏe (Nghiên cứu trường hợp phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa)" do nghiên cứu sinh Đinh Phương Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Bá Thịnh, bảo vệ chuyên ngành Xã hội học (mã số 62 31 03 01) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực tế bạo lực gia đình (BLGĐ), đặc biệt là bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng (BLVC), là một vấn đề mang tính toàn cầu và là một nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng cũng như quyền con người kể từ sau Hội nghị thế giới về quyền con người tại Vienna năm 1993. Theo số liệu nghiên cứu đa quốc gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2005), tỷ lệ phụ nữ từng bị bạo lực thể chất do bạn đời gây ra dao động từ 13% (đô thị Nhật Bản) đến 61% (các tỉnh Peru), trong đó có 4% tại Nhật Bản và 49% tại Peru chịu bạo lực thể chất nghiêm trọng; tỷ lệ bị kiểm soát hành vi hoặc bạo lực cảm xúc dao động từ 20% đến 75%. Tại Việt Nam, Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ (2010) cho thấy 32% phụ nữ từng kết hôn trải qua bạo lực thể xác trong đời và 6% bị bạo lực thể xác trong vòng 12 tháng trước thời điểm khảo sát. Nghiên cứu của Hegarty K. (1999) chỉ ra 47,6% phụ nữ là nạn nhân BLVC mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần, 17,9% có ý định hoặc hành vi tự tử, 18,5% lạm dụng chất cồn và 8,9% lạm dụng chất gây nghiện.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các công trình trước đây chỉ nhìn nhận bạo lực theo một chiều (chồng bạo lực với vợ) và xem phụ nữ là nạn nhân duy nhất; các hệ quả của bạo lực thường chỉ được mô tả định tính hoặc gắn liền với các khía cạnh đạo đức, gia đình, trong khi chiều cạnh sức khỏe thể chất, tâm thần và sức khỏe sinh sản chưa được đo lường cụ thể dưới góc độ xã hội học y tế; đồng thời bạo lực đối với nam giới và các yếu tố nhân khẩu tác động đến mức độ tổn hại sức khỏe của nạn nhân chưa được làm rõ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu thực trạng và hậu quả sức khỏe của BLVC đối với nạn nhân nam và nữ tại phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; từ đó đưa ra các khuyến nghị nâng cao nhận thức của người dân về tự bảo vệ sức khỏe khi xảy ra bạo lực và đề xuất mô hình hỗ trợ nạn nhân phù hợp với điều kiện địa phương.

Hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu gồm 5 nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bạo lực vợ chồng và hậu quả sức khỏe của bạo lực vợ chồng.
  2. Tìm hiểu thực trạng bạo lực vợ chồng tại địa bàn nghiên cứu (hình thức, tần suất, mức độ, người gây bạo lực, nguyên nhân).
  3. Tìm hiểu những hậu quả sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe sinh sản ở nạn nhân BLVC; hệ quả sức khỏe chia theo loại bạo lực.
  4. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ quả sức khỏe của bạo lực vợ chồng như tuổi, số con, số lần mang thai.
  5. Đề xuất giải pháp giúp giảm thiểu tình trạng bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng và giảm thiểu rủi ro sức khỏe cho nạn nhân của bạo lực.

Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng hiện nay diễn biến như thế nào?
  2. Bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe của nạn nhân?
  3. Những yếu tố nào có tác động đến hệ quả sức khỏe do BLVC?

Tương ứng với các câu hỏi là 3 giả thuyết nghiên cứu:

  1. Bạo lực vợ chồng xảy ra phổ biến, thường diễn biến ở mức độ ít nghiêm trọng. Nạn nhân của BLVC là cả người vợ và người chồng.
  2. Bạo lực vợ chồng có ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe sinh sản của nạn nhân.
  3. Có sự khác biệt về hệ quả sức khỏe do BLVC ở các nhóm nạn nhân bị các loại BLVC khác nhau, các yếu tố giới tính, độ tuổi, số con, số lần mang thai có ảnh hưởng đến hệ quả sức khỏe do BLVC.

Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng: Những chiều cạnh sức khỏe. Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Phường Quảng Tiến, Thành phố Sầm Sơn, Tỉnh Thanh Hóa (thời điểm khảo sát thực địa là phường Quảng Tiến, Thị xã Sầm Sơn).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thực địa từ tháng 6/2016 đến tháng 8/2016.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào thực trạng và hệ quả sức khỏe thể chất, tinh thần của BLVC ở nạn nhân nam và nữ; giới hạn ở 3 dạng bạo lực (thể chất, tinh thần, tình dục). Luận án không phân tích tiền sử bệnh tật của nạn nhân trước đó và không phân tích chi tiết quy trình điều trị y tế phục hồi sau bạo lực. Khách thể nghiên cứu: Phụ nữ và nam giới đã hoặc từng kết hôn, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; cán bộ y tế cấp phường.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo các nhóm chủ đề chính:

Nghiên cứu về bạo lực vợ chồng với nạn nhân là phụ nữ: Trong nước, Vũ Mạnh Lợi và cộng sự (1999) phân tích bạo lực giới từ thái độ cộng đồng và thể chế; Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh (2007) hệ thống hóa lý luận về bạo lực giới và các mô hình phòng chống; Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Thị Vân Anh (2009) khảo sát thực trạng và nguyên nhân bạo lực đối với phụ nữ; Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2001) nghiên cứu tại Thái Bình, Lạng Sơn, Tiền Giang cho thấy 6% phụ nữ bị chồng đánh phải nhập viện và 51,8% bị sưng tím da; Điều tra gia đình Việt Nam (2006) và Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam (2010) cung cấp số liệu dịch tễ học diện rộng. Nghiên cứu tại khu vực nông thôn của Trịnh Thái Quang (2005) nhấn mạnh ảnh hưởng của mô hình gia đình mở rộng; Lê Thị Phương Mai (1998), Belanger và Khuất Thu Hồng (1998), Vũ Song Hà (2008) tại Ninh Bình, Gammeltoft (1999), và Hoàng Bá Thịnh (2005) phân tích sự phụ thuộc vị thế, quan hệ mẹ chồng nàng dâu và áp lực tình dục; Nguyen D.V., Ostergren P.O., Krantz G. (2007) ghi nhận 31% phụ nữ nông thôn từng bị bạo lực thể chất và 33% chịu bạo lực thể chất kết hợp tinh thần. Trên thế giới, Aklimunnessa K. và cộng sự (2007) khảo sát tại Bangladesh ghi nhận tỷ lệ bạo lực thể chất là 68%, tình dục là 27%; Duvvury và cộng sự (2012), Clark C.J. (2010) tại Jordan, Kumar và cộng sự (2005) tại Ấn Độ chỉ ra 40% phụ nữ bị bạo hành có vấn đề tâm lý cần can thiệp y tế; Fernandez M. (1997) tại Bombay phân tích vai trò của thân tộc; Orte C. và cộng sự (2014), Weeks và LeBlanks (2011), Luoma M.L. và cộng sự (2014) khảo sát nhóm phụ nữ cao tuổi bị bạo lực tại Tây Ban Nha.

Quan điểm đối xứng giới về bạo lực vợ chồng: Luận án điểm lại các công trình thực nghiệm ủng hộ tính đối xứng giới của Fiebert (1997 - tổng hợp 79 nghiên cứu thực nghiệm), Archer (2000 - 82 nghiên cứu), Kimmel (2002 - hơn 100 nghiên cứu), Tendler (1999 tại Anh - 4,2% nam và nữ bị tấn công), Straus (2006 - khoảng 200 nghiên cứu) sử dụng thang đo xung đột gia đình (Conflict Tactics Scale - CTS). Steinmetz (1977) đề cập khái niệm "hội chứng những người chồng bị đánh"; Mills L.G. (1997), Kwong và cộng sự (1999) khảo sát 356 nam và 351 nữ; Saunders D.G. (1988) phân tích động cơ tự vệ của nữ giới; Hamberger L.K. và cộng sự (2003) sử dụng thang đo HITS tại khoa cấp cứu; khảo sát tội phạm tại Anh ghi nhận 2,5 triệu vụ bạo lực đối với nam giới mỗi năm; Trần Tuyết Ánh và cộng sự (2013) tại Việt Nam ghi nhận 17,8% người chồng bị bạo lực tinh thần, 1,6% bị bạo lực thể chất, 0,1% bị bạo lực tình dục và 1,7% bị bạo lực kinh tế.

Những chiều cạnh sức khỏe của bạo lực vợ chồng: Nghiên cứu quốc tế của Campbell J.C. (2002), Coker A.L. và cộng sự (2000, 2002) chỉ ra các chứng đau mãn tính, hội chứng ruột kích thích, bệnh phụ khoa; Blasco-Ros C. và cộng sự (2015) khảo sát 73 phụ nữ nạn nhân và 31 phụ nữ không bị bạo lực, kết hợp thang đo Beck (BDI) cùng xét nghiệm cortisol và DHEA; Mikaeili N. và cộng sự (2010) sử dụng thang MMPI và SCL-90-R tại Iran; Ali T.S. (2010) tại Pakistan ghi nhận 62% nạn nhân bị trầm cảm; Devries K.M. và cộng sự (2011), Ellsberg M. và cộng sự (2008) phân tích nguy cơ tự tử; Durevall D. (2014), Wagman J.A. và cộng sự (2015), Kishor S. (2014) phân tích mối liên hệ giữa bạo lực và lây nhiễm HIV tại châu Phi; Sorenson S.B. (1996) ghi nhận phụ nữ có nguy cơ bị thương tích cao gấp 3,9 lần nam giới; Kishor S. và Bradley S.E.K. (2012) tại Ghana và Uganda. Tại Việt Nam, Trần Anh Thư (2016), Ngô Thị Mai Diên (2011), Lý Thị Minh Hằng (2009), Nguyễn Thị Hoài Đức (2001), Đặng Phương Kiệt và Đinh Văn Lượng (2005 tại Nam Định ghi nhận 88,23% vụ tự tử liên quan đến BLGĐ) phân tích các biểu hiện tổn thương thể chất và tâm lý. Về bạo lực trong thai kỳ và chăm sóc y tế: Andrade và Pèrez (2008), Campbell C. (2004), Nascimento E.F. và cộng sự (2014 rà soát 71 nghiên cứu qua MEDLINE và SciELO), Coutinho E. và cộng sự (2015 trên 852 phụ nữ Bồ Đào Nha: 43,4% bị bạo lực thai kỳ), Chan K. và cộng sự (2008 trên 3.245 phụ nữ Hồng Kông dùng Chinese Abuse Assessment Screen), Raj A. và cộng sự (2011, 2015), Ribeiro M.R. (2014 trên 35 trường hợp: bạo lực thể chất tăng lên 77,1% sau sinh). Chi phí chăm sóc y tế do UNFPA (2011) ước tính chiếm 28,2% thu nhập của nạn nhân; các mô hình can thiệp y tế tại Bệnh viện Đức Giang và Đông Anh (2002-2009), nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vựng và cộng sự (2009 tại Ba Vì: 58% nạn nhân tìm dịch vụ y tế), Lê Thị Phương và Lê Tuấn (2010), Vung N.D. và cộng sự (2005).

Vị trí của luận án: Luận án bổ sung khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam bằng việc đánh giá đồng thời cả nạn nhân nam và nữ dưới lăng kính đối xứng giới, định lượng hóa các tổn thương sức khỏe thể chất và tâm thần thông qua các thang đo tiêu chuẩn, đồng thời phân tích mối quan hệ giữa bạo lực và các biến số nhân khẩu học cụ thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các khái niệm công cụ và lý thuyết xã hội học chuyên ngành:

  • Khái niệm công cụ:
    • Hôn nhân: Dựa trên định nghĩa pháp lý của Lord Penzance (1866), Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam (2000, sửa đổi 2004), quan niệm cấu trúc xã hội của Khuất Thu Hồng (1996) và Endrweit & Trommsdoff (2002).
    • Bạo lực vợ chồng: Tiếp cận định nghĩa bạo lực của WHO (2002), John Macionis (2013), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007) và khái niệm bạo lực với đối tác tình cảm (IPV) của WHO (2013). Phân loại gồm 3 dạng theo WHO (2010): Bạo lực thể chất (tát, xô đẩy, đánh đấm, bóp cổ, sử dụng vũ khí...), Bạo lực tinh thần/tâm lý (kiểm soát đi lại, cấm đoán giao tiếp, lăng mạ, nghi ngờ lòng chung thủy...), Bạo lực tình dục (cưỡng ép quan hệ trái ý muốn, đe dọa tình dục).
    • Giới và giới tính: Phân biệt sự khác biệt sinh học (Ann Oakley, 1970; Luật Bình đẳng giới, 2007) và các chuẩn mực, vai trò mang tính kiến tạo xã hội (FAO, 1997; WHO, 2011).
    • Sức khỏe: Vận dụng quan điểm chức năng của Emile Durkheim (1994), Talcott Parsons (dẫn theo Iain Crinson, 2007) và Tuyên ngôn Alma Ata (WHO, 1978) về sức khỏe toàn diện. Sức khỏe thể chất được thao tác hóa qua: thương tích, khả năng đi lại, hoạt động thường ngày, cảm giác đau/khó chịu. Sức khỏe tinh thần được đo bằng: khả năng tập trung/ghi nhớ, các triệu chứng rối nhiễu tâm trí, điểm số SRQ-20, ý nghĩ và hành vi tự sát.
  • Khung lý thuyết:
    • Lý thuyết bất đối xứng giới (tiếp cận nữ quyền tự do, nữ quyền xã hội, nữ quyền cấp tiến theo Cheyne và cộng sự, 2000; Eisenstein, 1980; Saunders, 1988; Kurz, 1989; Yllo, 1993): Xem bạo lực là công cụ duy trì quyền lực gia trưởng của nam giới.
    • Lý thuyết đối xứng giới (Straus, Gelles, Steinmetz, 1980; Johnson, 1996): Đặt giả định phụ nữ và nam giới đều có khả năng sử dụng và trở thành nạn nhân của bạo lực trong quan hệ tình cảm.
    • Mô hình sinh thái học (Ecological Model): Mô hình của WHO (2005), mô hình sinh thái xã hội phân tích bạo lực giới của Heise (2011), và mô hình sinh thái học về sức khỏe của Our Watch (2018), phân tích bạo lực qua các cấp độ cá nhân, mối quan hệ, cộng đồng và xã hội.
  • Khung phân tích của luận án: Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội tác động đến Hành vi bạo lực vợ chồng (loại bạo lực, số loại bạo lực); qua tương tác với các yếu tố nhân khẩu (giới tính, độ tuổi, số con, số lần mang thai) dẫn đến Hệ quả sức khỏe thể chất (thương tích, đi lại, hoạt động thường ngày, đau đớn) và Hệ quả sức khỏe tinh thần (tập trung/ghi nhớ, điểm SRQ-20, ý nghĩ/hành vi tự sát).
Yếu tố phân tích Thành phần chỉ báo thao tác hóa trong luận án
Dạng bạo lực vợ chồng Bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục
Chỉ báo sức khỏe thể chất Thương tích (cần/không cần chăm sóc y tế), khó khăn đi lại, khó khăn thực hiện hoạt động thường nhật, cảm giác đau và khó chịu
Chỉ báo sức khỏe tinh thần Rối nhiễu tâm trí, điểm thang đo SRQ-20 (ngưỡng $\ge 1$ và $\ge 8$), khả năng ghi nhớ/tập trung, ý nghĩ và hành vi tự sát, tần suất sử dụng thuốc
Biến số tác động / trung gian Giới tính (nam/nữ), nhóm tuổi, số con, số lần mang thai
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp định tính: Phân tích tài liệu thứ cấp; phỏng vấn sâu (PVS) các cặp vợ chồng là nạn nhân bạo lực và cán bộ y tế trạm y tế phường.
    • Phương pháp định lượng: Khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc trên mẫu cư dân đã kết hôn tại phường Quảng Tiến; sử dụng công cụ chuẩn SRQ-20 (Self-Reporting Questionnaire gồm 20 câu hỏi tự điền) của WHO; xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê, áp dụng các kỹ thuật: thống kê mô tả, kiểm định so sánh tương quan nhóm tuổi và giới tính qua hệ số kiểm định $z_{obs}$, xoay ma trận nhân tố để xác định cấu trúc nhân tố của thang đo SRQ-20 trên mẫu nạn nhân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích lịch sử nghiên cứu bạo lực vợ chồng từ trước thập niên 1980 đến các chương trình điều tra dịch tễ học hiện đại; đối chiếu hai trường phái lý thuyết đối xứng giới và bất đối xứng giới; điểm lại các bằng chứng y văn về tổn hại sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, nguy cơ tự sát, các vấn đề sức khỏe trong thai kỳ và hậu sản, cũng như rào cản trong tiếp cận dịch vụ điều trị y tế của nạn nhân. Qua đó, chương này khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu bạo lực vợ chồng dưới chiều kích sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày khung lý thuyết và phương pháp luận của luận án. Tác giả định nghĩa và thao tác hóa 4 nhóm khái niệm công cụ cốt lõi: hôn nhân, bạo lực vợ chồng, giới/giới tính, sức khỏe và hệ quả sức khỏe. Các lý thuyết nữ quyền, lý thuyết đối xứng giới và mô hình sinh thái học đa tầng bậc (WHO 2005, Heise 2011, Our Watch 2018) được tổng hợp để xây dựng khung phân tích thực chứng. Tác giả trình bày phương pháp chọn mẫu khảo sát định lượng, bảng hỏi chuẩn hóa kết hợp thang đo SRQ-20, quy trình phỏng vấn sâu định tính và các phương pháp thống kê kiểm định.

Chương 3: Thực trạng bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng

Chương 3 trình bày các dữ liệu thực nghiệm mô tả thực trạng BLVC tại địa bàn phường Quảng Tiến:

  • Phân tích cơ cấu mẫu khảo sát và tỷ lệ nạn nhân theo các đặc điểm nhân khẩu xã hội.
  • Thống kê tỷ lệ nam và nữ từng là nạn nhân của các biểu hiện bạo lực thể chất, tinh thần và tình dục trong đời và trong 12 tháng trước thời điểm khảo sát (Biểu 3.1, 3.2, 3.3).
  • Thực trạng bạo lực thể chất đối với phụ nữ trong giai đoạn mang thai và sau sinh, cùng mức độ chăm sóc sau sinh của người chồng (Bảng 3.4, 3.5).
  • Phân tích nguyên nhân dẫn tới BLVC và tỷ lệ đồng tình của người dân với các quan điểm mang tính gia trưởng (Bảng 3.7, 3.8), kết hợp các trường hợp nghiên cứu định tính (cô Mai, chị Hoa, anh An - Hộp 3.1, 3.2, 3.3).

Chương 4: Những hệ quả của BLVC đối với sức khỏe của nạn nhân

Chương 4 tập trung đo lường các tác động tiêu cực của BLVC đến hai khía cạnh sức khỏe:

  • Hệ quả thể chất: Tỷ lệ nạn nhân bị các loại thương tích (Bảng 4.9); số lần bị thương tích cần chăm sóc y tế (CSYT) và thương tích nhẹ không cần CSYT (Bảng 4.10); các rào cản, lý do nạn nhân không đến cơ sở y tế điều trị (Bảng 4.11); so sánh mức độ khó khăn khi đi lại, làm việc thường nhật và cảm giác đau đớn giữa nhóm bị bạo lực thể chất/tình dục và nhóm không bị bạo lực trong 12 tháng qua (Bảng 4.12, 4.13).
  • Hệ quả tinh thần: Phân tích phân bố điểm SRQ-20 giữa nhóm chưa từng bị và nhóm từng bị BLVC (Bảng 4.14); tương quan giữa việc bị BLVC với tỷ lệ đạt điểm cắt SRQ-20 $\ge 1$ và SRQ-20 $\ge 8$ (Bảng 4.15); thống kê các dấu hiệu rối nhiễu tâm trí (Bảng 4.16); kết quả xoay ma trận nhân tố xác định cấu trúc nhân tố của SRQ-20 ở nạn nhân (Bảng 4.17, 4.18); tần suất sử dụng các loại thuốc điều trị trong 12 tháng (Bảng 4.19); mức điểm SRQ-20 theo từng biểu hiện bạo lực tinh thần và so sánh điểm trung bình giữa 3 nhóm bạo lực (Bảng 4.20, 4.21); tương quan giữa tần suất bạo lực thể chất với ý nghĩ và hành vi từng thử kết thúc cuộc sống (Bảng 4.22).
  • Đánh giá tổng hợp hệ quả sức khỏe phân theo từng dạng bạo lực riêng biệt.

Chương 5: Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ quả sức khỏe ở nạn nhân bạo lực vợ chồng

Chương 5 phân tích các biến số tác động làm thay đổi mức độ nghiêm trọng của hệ quả sức khỏe:

  • Khác biệt theo giới tính: So sánh giá trị trung bình điểm SRQ-20, số lượng thương tích, số lần cần CSYT và số lần thương tích nhẹ giữa nạn nhân nam và nạn nhân nữ (Bảng 5.25); phân tích tương quan giới tính với hành vi từng thử kết thúc cuộc sống (Bảng 5.26; Biểu 5.4).
  • Khác biệt theo nhóm tuổi: Thống kê các vấn đề sức khỏe của nạn nhân theo các nhóm tuổi; so sánh tương quan nhóm tuổi với tình trạng sức khỏe giữa nhóm nạn nhân BLVC và nhóm chưa từng bị BLVC thông qua hệ số kiểm định $z_{obs}$ (Bảng 5.27, 5.28, 5.29).
  • Ảnh hưởng của số con và số lần mang thai: Phân tích tương quan giữa số con, số lần mang thai với số thương tích trong đời, số lần cần CSYT và số lần bị thương tích nhẹ (Bảng 3.6); so sánh tương quan giữa số con và số lần mang thai với các vấn đề sức khỏe ở nhóm nạn nhân so với nhóm không bị bạo lực (Bảng 5.30, 5.31).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án vận dụng và kiểm chứng lý thuyết đối xứng giới kết hợp với mô hình sinh thái học đa cấp độ trong việc nghiên cứu bạo lực vợ chồng tại một địa bàn cụ thể ở Việt Nam, mở rộng góc nhìn nghiên cứu xã hội học giới không chỉ giới hạn ở nạn nhân nữ mà bao gồm cả nạn nhân nam.
  • Hệ thống hóa và thao tác hóa bộ chỉ báo đo lường hệ quả sức khỏe thể chất và tâm thần của BLVC, chuẩn hóa việc sử dụng công cụ đánh giá rối nhiễu tâm trí SRQ-20 và kỹ thuật phân tích nhân tố trong nghiên cứu xã hội học y tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm về thực trạng BLVC hai chiều và các dạng bạo lực (thể chất, tinh thần, tình dục) tại phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  • Chỉ rõ mức độ tổn thương thể chất (thương tích cần và không cần CSYT, mức độ hạn chế vận động) và tổn thương tâm thần (rối nhiễu tâm trí, sử dụng thuốc an thần/giảm đau, ý định và hành vi tự sát) ở nạn nhân BLVC.
  • Xác định mức độ ảnh hưởng và tương quan có ý nghĩa thống kê của các biến số nhân khẩu học (giới tính, nhóm tuổi, số con, số lần mang thai) đến mức độ tổn hại sức khỏe của nạn nhân.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Tăng cường truyền thông thay đổi nhận thức cộng đồng về bình đẳng giới, giảm thiểu các quan niệm gia trưởng dung túng cho bạo lực.
  • Nâng cao nhận thức cho người dân về quyền tự bảo vệ sức khỏe và nhận diện sớm các tổn thương thể chất, tâm lý do bạo lực gây ra.
  • Đề xuất mô hình can thiệp, hỗ trợ nạn nhân BLGĐ tích hợp tại tuyến cơ sở: kết hợp trạm y tế phường, các tổ hòa giải và Hội Phụ nữ nhằm cung cấp dịch vụ sơ cứu y tế, tư vấn tâm lý và bảo vệ an toàn cho nạn nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Luận án không phân tích tiền sử bệnh tật của nạn nhân trước khi xảy ra bạo lực, do đó chưa tách biệt hoàn toàn ảnh hưởng của bệnh lý nền đối với tình trạng sức khỏe hiện tại.
  • Nghiên cứu chưa đi sâu phân tích chi tiết quy trình điều trị lâm sàng và hoạt động phục hồi chức năng của nạn nhân sau các can thiệp y tế.
  • Khảo sát thực địa trên mẫu dân cư thông thường không thu thập đủ dữ liệu để đánh giá mối liên hệ giữa BLVC và nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS như mục tiêu ban đầu đặt ra.
  • Chưa đi sâu khảo sát dạng bạo lực kinh tế trong mối quan hệ vợ chồng.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Thực hiện các nghiên cứu chuyên biệt trên nhóm bệnh nhân đặc thù (như nhóm người nhiễm HIV hoặc bệnh nhân tại các khoa cấp cứu, điều trị tâm thần) để phân tích sâu mối liên hệ nhân quả với BLVC.
  • Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các mô hình can thiệp y tế - xã hội kết hợp tại cộng đồng đối với việc phục hồi sức khỏe dài hạn cho nạn nhân của bạo lực gia đình.

Giá trị tham khảo

Công trình có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Tâm lý học, Giới và Phát triển, Sức khỏe cộng đồng: Cung cấp khung lý thuyết, công cụ khảo sát thực địa (bảng hỏi, thang đo SRQ-20) và phương pháp phân tích thống kê đa biến.
  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Hội Liên hiệp Phụ nữ: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc xây dựng chính sách phòng chống bạo lực gia đình và phát triển dịch vụ y tế công cộng hỗ trợ nạn nhân.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Luận án sử dụng công cụ tiêu chuẩn nào để đo lường mức độ ảnh hưởng của bạo lực vợ chồng đến sức khỏe tâm thần của nạn nhân? Trả lời: Luận án sử dụng thang đo SRQ-20 (Self-Reporting Questionnaire gồm 20 câu hỏi tự điền) do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xây dựng để đánh giá tình trạng rối loạn thần kinh và rối nhiễu tâm trí. Luận án phân tích mức độ tổn thương tâm lý dựa trên phân bố khoảng điểm, kiểm định điểm cắt (SRQ-20 $\ge 1$ và SRQ-20 $\ge 8$) và áp dụng phương pháp xoay ma trận nhân tố để xác định cấu trúc nhân tố của thang đo trên mẫu khảo sát.

Câu hỏi 2: Khung lý thuyết của luận án tiếp cận hiện tượng bạo lực vợ chồng dựa trên những lý thuyết chủ đạo nào? Trả lời: Luận án kết hợp hai trường phái lý thuyết đối lập là Lý thuyết bất đối xứng giới (chủ thuyết nữ quyền) và Lý thuyết đối xứng giới, đồng thời tích hợp Mô hình sinh thái học đa tầng bậc (mô hình của WHO năm 2005, mô hình sinh thái xã hội của Heise năm 2011 và mô hình sinh thái học về sức khỏe của Our Watch năm 2018) để giải thích nguồn gốc bạo lực và các hệ quả sức khỏe ở cấp độ cá nhân, quan hệ, cộng đồng và xã hội.

Câu hỏi 3: Luận án phân loại bạo lực trong mối quan hệ vợ chồng thành những hình thức cụ thể nào? Trả lời: Theo khung phân loại chuẩn của WHO (2010), luận án tập trung khảo sát 3 dạng bạo lực: Bạo lực thể chất (các hành vi gây đau đớn, thương tích), Bạo lực tinh thần/tâm lý (kiểm soát hành vi, xúc phạm danh dự, cô lập quan hệ) và Bạo lực tình dục (cưỡng ép, đe dọa quan hệ tình dục trái ý muốn).

Câu hỏi 4: Vì sao luận án không đưa số liệu phân tích về mối quan hệ giữa bạo lực vợ chồng và nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS vào kết quả thực địa? Trả lời: Tác giả giải thích rằng do đề tài thực hiện phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trong cộng đồng dân cư tại phường Quảng Tiến, số lượng người nhiễm HIV không xuất hiện đủ trong mẫu để phân tích thống kê có ý nghĩa; tác giả khuyến nghị việc kiểm định mối quan hệ này cần được thực hiện trên mẫu nghiên cứu chuyên biệt là bệnh nhân điều trị HIV.

Câu hỏi 5: Những biến số nhân khẩu học nào được luận án kiểm định có ảnh hưởng đến sự biến thiên hệ quả sức khỏe ở nạn nhân? Trả lời: Luận án phân tích 4 biến số nhân khẩu học chính gồm: Giới tính của nạn nhân (so sánh giữa nam và nữ), Nhóm tuổi của nạn nhân (sử dụng hệ số kiểm định $z_{obs}$ so sánh với nhóm không bị bạo lực), Số con hiện có và Số lần mang thai của người phụ nữ.

Kết luận

Luận án của tiến sĩ Đinh Phương Linh là công trình nghiên cứu xã hội học thực chứng về ảnh hưởng của bạo lực vợ chồng đến các chiều cạnh sức khỏe thể chất và tinh thần của nạn nhân tại phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng (với thang đo chuẩn SRQ-20 và các kỹ thuật kiểm định thống kê) và phỏng vấn sâu định tính, tác giả đã làm rõ thực trạng bạo lực hai chiều, các dạng thương tích thể xác và mức độ rối nhiễu tâm trí ở cả nạn nhân nam và nữ. Công trình chỉ ra mối tương quan giữa các yếu tố giới tính, độ tuổi, số con, số lần mang thai với mức độ tổn hại sức khỏe, từ đó cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ công tác can thiệp y tế - xã hội và hoạch định chính sách phòng chống bạo lực gia đình tại Việt Nam.