Chương 1 TỔNG QUAN 1. Một vài nét về bạo lực gia đình 1. Định nghĩa bạo lực gia đình Ở Việt Nam, theo Khoản 2 Điều 1 của Luật Phòng chống BLGĐ ban hành năm 2007 quy định: BLGĐ là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình [9]. Như vậy, BLGĐ bao gồm các yếu tố bạo lực về thể xác, về tinh thần, về kinh tế và cả yếu tố bạo lực về tình dục.
Theo WHO: bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ bạo lực về thể xác hoặc bạo lực tình dục hoặc lạm dụng tình cảm/tâm lý. Trong đó: - Bạo lực thể xác bao gồm đánh, tát, đánh, đá, xô/đẩy, làm tổn thương bằng vũ khí [71]. - Bạo lực tình dục bao gồm sử dụng vũ lực, đe dọa hoặc ép buộc quan hệ tình dục hoặc thực hiện các hành vi tình dục người phụ nữ không muốn. Nó bao gồm việc làm hại một người trong quan hệ tình dục.
Nó cũng bao gồm cả hiếp dâm, và cố gắng hiếp dâm, trong đó liên quan đến việc sử dụng vũ lực, đe dọa, ép buộc hoặc sử dụng thuốc/rượu để có được sự thâm nhập vào âm hộ/âm đạo/hậu môn hoặc miệng do một hoặc nhiều thủ phạm đối với đối tác thân mật [70], [71]. - Bạo lực tinh thần bao gồm chỉ trích nhiều lần, gọi tên hoặc lăng mạ, đe dọa làm tổn thương người thân hoặc để phá hủy những thứ mà người đó quan tâm, coi thường hoặc sỉ nhục nơi công cộng [22]. Theo các định nghĩa ở trên thì nạn nhân của BLGĐ có thể là vợ, chồng, con cái hay bố mẹ. tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu này, chỉ đề cập đến vấn đề BLGĐ đối với người phụ nữ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại bạo lực gia đình - Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống BLGĐ ban hành ngày 21/11/2007 [9], các hành vi BLGĐ bao gồm: + Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng; + Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; + Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; + Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; + Cưỡng ép quan hệ tình dục; + Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; + Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; + Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; + Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở. - Theo “Cẩm nang: Công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Bình đẳng giới và phòng, chống BLGĐ dành cho cán bộ xã, phường, thị trấn” của Bộ lao động thương binh và xã hội (2014), BLGĐ được chia thành năm loại như sau: bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế, sao nhãng [2]. Trong đó: + Bạo lực thể xác: Hành vi bạo lực thể xác là hành vi ngược đãi gây tổn thương về thực thể đối với nạn nhân BLGĐ.
Loại hành vi này dễ nhận biết nhất bởi nó để lại dấu vết trên cơ thể. Một số hành vi bạo lực thể chất như: đánh, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đấm, đá, tát…; Xô đẩy, giật kéo, quăng ném, bóp cổ; Sử dụng hung khí gây hủy hoại làm biến dạng cơ thể; Không cho ăn uống, nghỉ ngơi, không cho mặc quần áo, để rét; Giết chết (đầu độc, đốt cháy, đâm chém…). + Bạo lực tinh thần: còn được gọi là bạo lực tâm lý là những hành vi đối xử tồi tệ gây áp lực về mặt tâm lý, tạo tổn thương tức thời hay tiềm ẩn về mặt tâm lý, sức khỏe tâm thần cho nạn nhân bạo lực. Loại bạo lực này rất phổ biến nhưng lại khó nhận dạng so với bạo lực thể xác.
Một số hành vi bạo lực tinh thần như: chửi mắng, lăng mạ, chì chiết; Xúc phạm nhân phẩm, uy tín (như tiết lộ đời tư, phát tán tờ rơi làm ảnh hưởng đến danh dự, cưỡng ép, lột bỏ quần áo trước mặt người khác…); Cấm đoán (quyền được chăm sóc con cái, người thân, được làm việc, được tham gia các hoạt động xã hội, quyền giao tiếp với người khác, quyền được quyết định…); Cô lập không cho tiếp xúc với người khác; Đe dọa, gây áp lực tâm lý; Nhốt; Xua đuổi, quấy rối hoặc gây áp lực thường xuyên về mặt tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; Buộc tội nghi ngờ, theo dõi; Cưỡng ép hôn nhân, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Do ghen tuông, tổ chức theo dõi, ngăn cấm các mối quan hệ giao tiếp; Phớt lờ cảm xúc, không quan tâm, đối xử lạnh nhạt; Chê bai, chế nhạo. + Bạo lực tình dục: là hành vi sử dụng vũ lực để ép buộc người kia có quan hệ tình dục (dù là hành vi có thực hiện được hay không), hoặc hành vi (đã thực hiện được hay mới dự định) có lôi kéo họ vào hoạt động tình dục ngay cả khi họ không có khả năng từ chối bởi các lý do như sức khỏe, bị ảnh hưởng của chất kích thích, chưa đủ năng lực hiểu biết về hậu quả của quan hệ tình dục đó, hoặc sự hăm dọa, quấy rối tình dục. Một số hành vi bạo lực tình dục như: Cưỡng ép quan hệ tình dục; Sử dụng những hình thức quan hệ tình dục gây đau đớn, Sử dụng những lời lẽ liên quan tới dục tính gây khó chịu về tâm lý; Bắt phải chứng kiến cảnh sinh hoạt tình dục, bộ phận sinh dục; Buộc ở một nhà hay ngủ một giường với người tình; Cưỡng ép kết hôn hay ly hôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Bạo lực kinh tế: là hành vi kiểm soát về tài chính, bắt phụ thuộc vào tài chính đối với các thành viên trong gia đình.
Loại bạo lực này thường xảy ra đối với phụ nữ/người vợ trong gia đình. Hành vi bạo lực kinh tế bao gồm: Tịch thu tiền, của cải và khi cần phải cầu xin; Kiểm soát mọi tài sản, tiền bạc tư nhân; Không cho sử dụng tài sản chung; Kiểm soát thu nhập tạo ra sự phụ thuộc; Chiếm đoạt hoặc phá hủy tài sản; Buộc đóng góp tài chính vượt quá khả năng; Kiểm soát tiền bạc, tài sản bố mẹ. - Sao nhãng: Được định nghĩa như bất cứ hành động đối xử tồi tệ như bỏ qua, không quan tâm chăm sóc, không cung cấp đầy đủ các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại, sự phát triển về tình cảm, thể chất của thành viên trong gia đình đặc biệt là trẻ em và người già. Các hành vi cụ thể được xem như sao nhãng thuộc BLGĐ bao gồm: Những hành vi đối xử có khả năng dẫn đến việc gây hại sức khỏe hoặc sự thay đổi về mặt tâm lý của nạn nhân; Không cho ăn uống đầy đủ; Không cung cấp chỗ trú ngụ an toàn, đảm bảo vệ sinh môi trường; Không giám sát hay bảo vệ (đặc biệt là trẻ em, người già) khỏi những nguy cơ gây thương tích; Bỏ mặc không chăm sóc.
Tuy nhiên, sự “sao nhãng” suy cho cùng vẫn là một loại hành vi gây ảnh hưởng đến tinh thần của người phụ nữ, chính vì thế chúng ta có thể coi sao nhẵng thuộc bạo lực tinh thần. Từ đó, BLGĐ được chia thành bốn loại là: bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế. Như vậy, bạo lực trong gia đình có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và giữa các thành viên khác nhau trong gia đình nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu này tôi xin đề cập đến hiện tượng bạo lực gia đình của người chồng đối với người vợ. Đây được coi là dạng bạo lực gia đình điển hình và nhận được sự quan tâm và lo lắng của mọi thành viên trong xã hội.
Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình Có nhiều nguyên nhân dẫn đến BLGĐ, sau đây là một số nguyên nhân hay gặp: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Bất bình đẳng giới và quan hệ giới: Nhìn chung nghiên cứu đều đưa ra kết luận gốc rễ của BLGĐ là bất bình đẳng giới và quan hệ giới [41]. + Do nhận thức về giới, bình đẳng giới, do kiến thức pháp luật còn hạn chế. Một nghiên cứu tại Indonesia cho kết quả: Những thay đổi về văn hóa và xã hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi mối quan hệ giữa nam và nữ. Ba vị trí khác nhau của nam giới với niềm tin nhất định về trật tự giới tính và chấp nhận bạo lực trong hôn nhân được xác định: người theo chủ nghĩa truyền thống, người thực dụng, người bình đẳng.
Người theo chủ nghĩa truyền thống có sự chấp nhận bạo lực cao nhất như một công cụ để duy trì vị thế vượt trội của đàn ông trong hôn nhân, trong khi người theo chủ nghĩa thực dụng coi bạo lực là điều không mong muốn nhưng đôi khi cần để điều chỉnh hành vi của người vợ. Người bình đẳng không thấy bất kỳ lý do bạo lực nào vì họ tin rằng đàn ông và phụ nữ là bình đẳng và bổ sung cho nhau [36]. - Do nhận thức của chính bản thân của người phụ nữ bị bạo lực: Phụ nữ quyết định giữ im lặng vì sợ rằng sự bạo lực đó sẽ còn lặp lại hoặc việc đáp trả sẽ không giúp ích gì cho họ. Mặt khác họ sợ sự kỳ thị từ xã hội [42].
Chính vì vậy, bạo lực sẽ nối tiếp bạo lực tạo thành một chuỗi những ám ảnh trong cuộc sống gia đình. - Do bản thân người phụ nữ có trình độ học vấn thấp, không có công việc ổn định, thu nhập thấp [33].